A.TỊNH TRẠCH
Với Tịnh Trạch thì rất đơn giản. Từ cung Cửa Cái, biến tới cung Phòng
Chủ xem được Du niên gì , thì đó là Du niên của Phòng Chủ, cũng là Du
niên của Trạch. Đương nhiên vì Sao tương ứng với Du Niên đó cũng là Sao
của Phòng Chủ, và là Sao của Trạch luôn vậy.
Từ cung Cửa Cái , biến tới cung của Cửa Buồng, ta sẽ có Du niên &
Sao của Cửa Buồng_ đây là một yếu tố phụ để luận đoán thêm về người ngủ ở
phòng đó vậy.
B.PHỨC TRẠCH
I/. AN DU NIÊN VÀ SAO CHO NGĂN ĐẦU:
Do Phức Trạch có nhiều ngăn, nên việc phân bố Du niên & Sao cho các
ngăn cũng phức tạp hơn. Việc an Du Niên & Sao của các ngăn sau,
trong Phức Trạch, phụ thuộc rất lớn vào việc An Du Niên cho ngăn đầu,
nếu sai ngăn đầu coi như các ngăn sau sai hết. Vì sao thế? Bởi trong
Phức Trạch, các Sao tịnh tiến vào trong theo chiều tương sanh của Ngũ
Hành của các Sao.
Ví dụ như: Ngăn đầu ta có Lục Sát Thủy đi, thì ngăn kế sẽ là Mộc (vì
Thuỷ sinh Mộc), tương ứng với Sao Tham Lang- Du niên Sanh Khí; ngăn kế
nữa sẽ là hành Hỏa (vì Mộc sinh Hoả), tương ứng với Sao Liêm Trinh- Du
niên Ngũ Quỹ... Do đó, việc An Du Niên cho ngăn đầu thật chính xác rất
quan trọng!!!
Để An Du niên cho ngăn đầu trong Phức Trạch, ta cần xác định Cửa Cái thuộc CHÍNH MÔN hay là THIÊN MÔN.
Cửa Cái CHÍNH MÔN là cửa ngay chính giửa nhà vậy, trường hợp nhà xưa có
ba gian, có ba bộ cửa, đương nhiên phải xét cửa nào là cửa chính thường
được sử dụng nhất rồi. Khi ấy, không tiện thì ta có thể sử dụng cửa bên,
nếu nó tạo ra hiệu quả tốt (Việc này NCD sẽ có chứng minh bằng ví dụ
trong phần sau).
Như vậy ta dễ dàng hiểu ra cửa nằm một bên nhà là cửa THIÊN MÔN rồi.
Với mỗi vị trí CHÍNH hay THIÊN thì cách phối hợp Sao cũng khác.
1/. CỬA CHÍNH MÔN :
Cửa này là cửa trùng với Hướng nhà. Với Cửa Chính Môn thì cách phối hợp
là bình thường: Từ cung Cửa Chính Môn biến tới cung Sơn Chủ, ta được Du
niên gì, ứng với Sao gì, thì đó là Du niên của Trạch, Du niên của Sơn
Chủ, cũng là Du niên của ngăn đầu_ Sao tương ứng với nó cũng được An cho
ngăn đầu.
Ví dụ: Nhà Tọa Càn, Hướng Tốn, có cửa Chính Môn, có 4 ngăn.
Trước tiên, ta thấy cửa Chính Môn thì trùng với Hướng, vậy đó là Cửa
Tốn. Từ Cửa Tốn biến tới Sơn Chủ Càn (Sơn Chủ chính là Tọa, là mặt hậu
của nhà), ta được Du niên Họa Hại & Sao ứng với nó là Sao Lộc Tồn
thuộc Thổ. Ta có ngăn đầu là Lộc Tồn_ Họa Hại Thổ. Ở ngăn kế sẽ là Vũ
Khúc_ Diên Niên Kim. Ngăn kế nữa là Văn Khúc_ Lục Sát Thủy. Và ngăn cuối
là Tham Lang_ Sanh Khí Mộc.
Nhà đó sẽ được gọi là nhà HỌA HẠI TRẠCH.
2/. CỬA THIÊN MÔN:
Trước tiên ta hãy dùng La Bàn xác định cung của Cửa Thiên Môn này đã. Kế
đến từ cung của Cửa Thiên Môn biến tới Hướng nhà, đó chính là Du niên
của ngăn đầu vậy.
Muốn xác định Du niên của Trạch, Du niên của Sơn Chủ thì ta lấy từ cung
của Cửa Thiên Môn biến tới cung Sơn Chủ, đó là Du niên của Sơn Chủ, và
Du niên của Trạch vậy.
Thí dụ: Nhà Tọa Ly, Hướng Khảm, cửa bên trái thuộc cung Càn, nhà có 3 ngăn.
Trước tiên ta lấy từ cung Cửa biến tới Hướng: Càn với Khảm phối nhau cho
ra Du niên Lục Sát Thủy, ứng với Sao Văn Khúc. Ta An Sao này và Du niên
này vào ngăn đầu để tính tiếp các ngăn sau. Ngăn đầu ghi vào đó là Văn
Khúc_ Lục Sát Thủy. Ngăn giửa ghi vào Tham Lang_ Sanh Khí Mộc. Ngăn cuối
ghi vào Liêm Trinh_ Ngũ Quỹ Hỏa.
Kế đến ta tìm Du niên cho Trạch & Du niên cho Sơn Chủ. Từ cung của
Cửa Thiên Môn biến tới cung của Sơn Chủ, ta có Càn phối với Ly là Tuyệt
Mạng, đó là Du niên của Sơn Chủ lẫn Du niên của Trạch vậy. Ta gọi nhà đó
là TUYỆT MẠNG TRẠCH.
II/. CÁCH PHÂN BỐ SAO Ở ĐỘNG TRẠCH (từ 2 đến 5 ngăn):
Cách mà NCD di chuyển Sao như trên là cách di chuyển Sao của loại Động
Trạch này đó. Đọc đến đây ắt các anh chị, các bạn sẽ có thắc mắc: Sao
thì có đến 8 Sao, trong đó có 2 sao Kim, 2 sao Thổ, 2 sao Mộc, vậy gặp
ngăn phải phân Sao Mộc hay sao Kim thì dùng Sao nào?
Xin thưa rằng ở Động Trạch chỉ dùng 5 Sao làm chính, đó là: Tham Lang,
Văn Khúc, Vũ Khúc, Liêm Trinh & Cự Môn. Trừ trường hợp các Du niên
phối nhau ra các sao Lộc Tồn, Phá Quân & Phụ Bật thì mới an Sao đó
vào ngăn đầu thôi. Ngoài ra, các trường hợp Du niên ngăn đầu không phải
là Họa Hại, Tuyệt Mạng, Phục Vì thì chỉ dùng 5 Sao kia.
III/. CÁCH PHÂN BỐ SAO Ở BIẾN TRẠCH (từ 6 đến 10 ngăn):
Trong trường hợp An Sao cho Biến Trạch, thì mới dùng thêm bốn sao phụ
ngũ hành kia. Tuy gọi là bốn sao nhưng thực tế chỉ có...3 rưởi thôi, vì
Sao Phụ Bật chỉ có tác dụng phân nửa thôi, lực nó yếu hơn hẳn các sao
khác.
Như vậy ngoại trừ Thuỷ và Hoả chỉ có một Sao, còn lại các nhóm ngũ hành
kia đều có một đôi sao. Trong trường hợp gặp các nhóm ngũ hành có đôi
sao thì dùng liên tiếp cả đôi sao cho 2 ngăn liền nhau.
Tuy nói vậy, nhưng không phải nhà BIẾN TRẠCH nào cũng dùng hết các đôi sao, còn tùy thuộc vào số ngăn của nó:
_ Biến Trạch có 6 ngăn: Chỉ dùng đôi sao đầu tiên mà nó gặp.
_ Biến Trạch có 7 ngăn: Chỉ dùng hai đôi sao đầu mà nó gặp.
_ Biến Trạch có 8-10 ngăn mới dùng đú cả ba đôi sao.
Đến đây lại nảy sinh vấn đề: Thế gặp đôi sao thì an sao nào trước? Đây
là mấu chốt của vấn đề, nếu quý vị nào đọc đến đây mà nêu ra câu hỏi ấy
liền thì chắc chắn vị đó rất ham mê tìm tòi về Phong Thuỷ vậy. Ngoại trừ
trường hợp ngăn đầu & ngăn kế có đôi sao, vì khi đó đã có sao ở
ngăn đầu tính theo Du niên biến ra. Các trường hợp ở sau thì sự an bố
các đôi sao theo luật nhất định :
_ Gặp đôi sao thuộc Mộc thì PHỤ BẬT trước, THAM LANG sau.
_ Gặp đôi sao thuộc Kim thì VŨ KHÚC trước, PHÁ QUÂN sau.
_ Gặp đôi sao thuộc Thổ thì: LỘC TỒN trước, CỰ MÔN sau.
IV/. CÁCH PHÂN BỐ SAO CHO HÓA TRẠCH (từ 11 đến 15 ngăn):
Vẫn áp dụng như phần Biến Trạch, và cứ thế xoay cho đến ngăn chót.
NGĂN CHÁNH & SAO CHÚA
**********
Như ta thấy, mỗi ngăn có một sao trấn giữ, Du niên chỉ là cái để ta tìm
ra Sao ở các ngăn thôi, thật ra, chính các Sao đó mới chi phối sự Cát
Hung của các ngăn đó vậy.
Sau khi an Sao cho từng ngăn rồi, người ta mới tìm 1 Sao làm Sao Chúa.
Vì sao phải cần 1 Sao Chúa? Do trong Phức trạch có nhiều ngăn, nên cần
chọn một ngăn chánh có Sao tốt để phát huy hiệu lực vượt trội của sự tốt
đẹp, hầu trấn áp các ngăn xấu hại có Hung Tinh, nhất là với các căn nhà
có tên Ác hại_ tức các Hung Du niên Trạch.
Thường khi chọn Ngăn Chánh, người ta ít chọn các ngăn đầu lắm, vì nó xa
Sơn Chủ. Trong Phong Thuỷ, khi không xét đến LONG 9tức Long Mạch), thì
Sơn Chủ biểu tượng cho Trạch Chủ vậy, nên người ta luôn tìm cách củng cố
nó, bồi bổ nó, hỗ trợ nó. Chính vì thế, khi chọn Ngăn Chánh người ta
mới thường chọn ngăn gần với Sơn Chủ, hoặc trực ngộ Sơn Chủ. Một căn cao
lớn hơn, rộng rãi hơn, sạch sẽ hơn các ngăn khác mới đáng gọi là Ngăn
Chánh. Nói một cách dễ hiễu nhất, cứ căn cứ vào Thể Tích của Ngăn, thể
tích ngăn nào lớn nhất thì đó là Ngăn Chánh vậy. Đây chính là một điều
mà một số thầy Phong Thuỷ trong trường phái này lầm lẫn. Cứ nhìn thấy
Diện Tích lớn hơn đã vội vàng cho đấy là Ngăn Chánh thì tai hại vô
cùng!!
Ví dụ: Một ngăn ngang 3m, dài 4m, cao 6m (vì không vướng gác lửng bên
trên, lại không có la-phông); một ngăn ngang 4m, dài 4m , cao 3m.
Nếu chỉ nhìn sơ theo diện tích tất phán đoán rằng ngăn sau lớn hơn ngăn
trước. Ta thử làm phép tính nhân xem: 3m x 4m x 6m= 72 m3
4m x 4m x 3m= 48 m3.
Một trời một vực phải không quý vị? Nếu như Ngăn chọn lầm đó mà do một
Hung Tinh trấn ở đó thì thử hỏi tai hại cỡ nào? Trong Phong Thuỷ, chỉ
cần một tính toán sai lầm của người thầy, thì có thể tai họa lập tức
giáng xuống đầu gia chủ liền tức thời. Do đó, nếu muốn chọn Ngăn Chánh
với Sao tốt hỗ trợ cho nhà, thì xin hãy cẩn thận xét cả chiều cao của
ngăn đó!!!
Ngăn Chánh thì Sao của nó được gọi là SAO CHÚA.
Cùng với Du Niên Trạch, Sao Chúa góp phần chi phối sự lành dữ, cát hung
của những người sống ở nhà đó. Do vậy, phải chọn Sao Chúa là một Cát
Tinh mới đem lại lợi ích cho những người sống ở nhà đó.
Và tốt hơn nữa, Cát Tinh đó phải hữu lực như: Đắc Vị, Đăng Điện hay tốt bậc nhất là NHẬP MIẾU.
_ Cát Tinh Đắc Vị là chỉ Sao có Ngũ Hành Tương Sanh với Ngũ Hành của cung.
_ Cát Tinh Đăng Điện là chỉ Sao có Ngũ Hành trùng với Ngũ Hành của cung.
Ví dụ như: hai cung Cấn- Đoài biến ra Vũ Khúc- Diên Niên Kim. Vậy thì so
với cung Cấn thì Sao Vũ Khúc Đắc Vị, nhưng so với cung Đoài thì Sao Vũ
Khúc là Đăng Điện.
_ NHẬP MIẾU là chỉ trường hợp Ngăn Chánh là ngăn cuối cùng, tức Sao Chúa trực ngộ Sơn Chủ, giáp với Sơn Chủ.
Khi một căn nhà đã có Du Niên Trạch là một Cát Du Niên, lại thêm Sao
Chúa là một Cát Tinh hữu lực thì khác nào như gấm thêu hoa, như Rồng mây
gặp hội, nhà càng hưng thịnh lâu bền.
Khi một căn nhà có Du Niên Trạch là một Hung Du Niên, ta càng cần chọn
một Sao Chúa là Cát Tinh hữu lực, nhắm áp chế bớt Hung Tinh. Trường hợp
này, các nhà Phong Thuỷ gọi là YỂM SÁT TRẠCH.
Khi gặp trường hợp này, thì tác dụng tốt của Sao Chúa sẽ bị giảm đi 1/3
đến 1/2 hiệu lực tốt đẹp vốn có của nó. Thời gian còn lại, hiệu lực của
nó rất yếu, khó chống ngăn nếu có thêm Hung Tinh nào nữa.
TUYỆT ĐỐI KỴ lấy Sao Chúa là môt Hung Tinh, nếu Hung Tinh này Đắc Vị,
Đăng Điện hay Nhập miếu nữa thì càng thập phần nguy khốn cho gia chủ. Ví
như một kẻ hôn quân bạo chúa mà lên nắm quyền sinh sát vậy, tha hồ mà
hành hung tác ác, gieo tai rắc họa.
Bất đắc dĩ lắm người ta mới dùng Cát Tinh Thất Vị (là chỉ Sao tương khắc
với Cung) làm Sao Chúa. Vì một Cát Tinh Thất Vị có khác gì cá trên cạn,
cọp xuống đồng bằng đâu, chẳng làm được gì.
CUNG VÀ SAO
*****
Ở đây, ta chỉ xét các Cung trọng (tức là các Cung: Cửa Cái, Bếp và Sơn
Chủ hay Phòng Chủ), không bàn đến các Cung Khinh (tức là các Cung: Cửa
ngõ, Cửa Bếp, Cửa Buồng). Trong ba Cung Trọng này lại chia ra làm hai:
Cung bên ngoài và Cung bên trong.
_ Cung bên ngoài (ngoại) là Cửa Cái.
_ Cung bên trong (nội) là Bếp và Sơn Chủ hay Phòng Chủ
Điều đầu tiên mà NCD muốn nói đến là một điều... xưa như Trái Đất :
1/. CÔ ÂM BẤT SINH, ĐỘC DƯƠNG BẤT TRƯỞNG:
Vâng, điều này NCD luôn nhắc mãi. Đây là LÝ của Dịch, cũng là LÝ của
Phong Thuỷ_ dù theo bất kỳ trường phái nào thì cũng không thể gạt bỏ ý
này, xin hãy nhớ!!!
Vậy thì khi nào sẽ rơi vào trường hợp này? Ấy là khi hai Cung Thuần Âm
hay Thuần Dương. Khi ấy, dù cho có giao phối nhau cho ra Cát Du Niên,
thì sự tốt đẹp ấy cũng không được bền lâu. Cũng như hai vợ chồng vậy
thôi, người này nóng (Dương ) thì người kia phải nguội (Âm) chứ, nếu
không chắc tan hoang nhà cửa quá. Việc phân cung Âm, Dương này ta có thể
chủ động được, nên khi phối Cung, ta không chỉ xét Du Niên tốt, mà nên
xem cả việc nó có đú Âm Dương chưa? Nếu thiếu thì ta tìm cách bổ khuyết
vào.
Ví dụ 1: Nhà có cửa Tốn, Sơn Chủ Khảm. Phối với nhau được Sanh Khí Trạch, lại đủ Âm Dương tất phát dài lâu vậy.
Ví dụ 2: Nhà có Cửa Cái Khảm, Sơn Chủ Chấn. Phối với nhau được Thiên Y
Trạch, nhưng đây là hai Cung Thuần Dương không sanh hóa, ở lâu nhà này
sẽ dẫn tới Tuyệt tự. Ta có thể dùng Bếp Ly Âm để trung hòa lại, tất phát
bền lâu vậy.
Các Cung Bát Quái phân Âm Dương, NCD đã có nói rồi, nay xin nhắc lại:
_ Cung Dương: Càn vi Lão Ông, Khảm vi Trung Nam, Cấn vi Thiếu Nam, Chấn vi Trưởng Nam
_ Cung Âm : Tốn vi Trưởng Nữ, Ly vi Trung Nữ, Khôn vi Lão Mẫu, Đoài vi Thiếu Nữ.
2/. NGOẠI SINH NỘI_ NỘI SINH NGOẠI:
Ngoại sinh Nội, là ngoài sinh vào trong, như Cung Cửa Cái sinh Cung
Bếp, Cung Cửa Cái sinh Cung Sơn Chủ (hay Phòng Chủ). Quan hệ này gọi là
SINH NHẬP. Hiệu ứng tốt đẹp sẽ đến sớm và nhanh, sự hanh thông trong gia
đình thuận lợi hơn và dễ dàng hơn.
Ví dụ: Cửa Tốn, Sơn Chủ Ly. Được Thiên Y Trạch, lại có Cửa Tốn Mộc ở
ngoài sinh vào trong cho Sơn Chủ Ly Hỏa nên phát rất nhanh. Tuy hai Cung
này Thuần Âm, nhưng ta có thể dùng Bếp Khảm, hay Bếp Chấn trung hòa thì
vẫn phát lâu bền được.
Nội sinh Ngoại, là ở trong sinh ra ngoài, như Cung Sơn Chủ (hay Cung
Phòng Chủ) sinh ra Cung Cửa Cái, Cung Bếp sinh ra Cung Cửa Cái. Quan hệ
này gọi là SINH XUẤT. Hiệu ứng tốt đẹp sẽ đến trễ và chậm vì nhịp độ
thưa thớt, sự hanh thông trong gia đình do cần lao đưa đến hơn là duyên
may.
3/. NỘI KHẮC NGOẠI_ NGOẠI KHẮC NỘI:
Nội khắc Ngoại là ở trong khắc ở ngoài. Là Cung Sơn Chủ (Phòng Chủ) khắc
Cung Cửa Cái, Cung Bếp khắc Cung Cửa Cái. Quan hệ này gọi là KHẮC XUẤT.
Trong trường hợp này, dù người trong nhà chống chế được ngoại cảnh,
nhưng cuối cùng vẫn là sự hao tổn tinh thần và vật chất. Bán Hung.
Ngoại khắc Nội là ở ngoài khắc vào trong. Là Cung Cửa Cái khắc Cung Sơn
Chủ (Phòng Chủ), Cung Cửa Cái khắc Cung Bếp. Quan hệ này gọi là KHẮC
NHẬP. Rơi vào trường hợp này, nạn tai sẽ đến nhanh và bất ngờ, không
biết đâu mà lường, và khó ứng phó, xoay trở, họa này do bên ngoài đưa
đến.
_ Cung bị khắc là Càn: Người đàn ông lớn tuổi trong nhà, cha, ông bệnh
đau, họa hoạn, vô năng, bất lực vì không thể thi thố được tài trí của
mình.
_ Cung bị khắc là Đoài: Khốn khổ cho con gái út, cháu gái nhỏ.
_ Cung bị khắc là Khôn: Tổn hại cho Lão mẫu, người bà- mẹ- vợ trong nhà.
_ Cung bị khắc là Ly: Tổn hại cho con gái, cháu gái giửa, trung nữ.
_ Cung bị khắc là Tốn: Tổn hại cho con gái, cháu gái lớn, tức hạng nữ nhân trung tuổi trong nhà.
_ Cung bị khắc là Chấn: Tổn hại cho hàng nam nhân trọng tuổi như con
trai trưởng, cháu trai trưởng trong nhà. Đặc biệt nếu chỗ đó là Từ Đường
thì bất kể Trưởng Tử, Trưởng Tôn nội, ngoại đều bị khắc cả. Xin cẩn
thận!!!
_ Cung bị khắc là Cấn: Tổn hại cho con trai nhỏ, con trai út, cháu trai
nhỏ, thiếu nam (ở đây cũng có thể là... con trai dòng thứ).
_ Cung bị khắc là Khảm: Tổn hại cho con trai giửa, cháu trai giửa, trung nam trong nhà.
4/.NGOẠI CHIẾN_ NỘI CHIẾN:
Sao được coi là yếu tố bên ngoài, vì nó còn phài do các Cung hỗ biến với
nhau mà ra, như là các yếu tố ngoại lai vậy. Các Cung được xem là các
yếu tố bên trong, bởi chúng là yếu tố có sẵn nằm trên địa bàn, như cái
gốc rễ bên trong vậy.
_ Sao khắc Cung: Là ngoài khắc vào trong, được gọi là Ngoại chiến, ví như kẻ gây chiến từ bên ngoài đến vậy.
_ Cung khắc Sao: Là trong khắc ra ngoài, được gọi là Nội chiến, như người trong nhà ra ngoài sinh sự vậy.
Theo Dương Trạch Tam Yếu thì cho rằng: Mỗi trường hợp Nội Chiến sẽ giảm 50% tốt. Mỗi trường hợp Ngoại Chiến sẽ giảm 30% tốt.
Theo NCD thì nói như vậy nghe có vẻ không hợp lý! Vì sao? Ta thử nghĩ xem nhé:
Nội Chiến là Cung khắc Tinh, là trong khắc ra ngoài, ví như người trong
thắng thế, tức Cung còn khả năng chế ngự Hung Tinh, khiến Hung Tinh cũng
phải kiêng dè không dám hành hung nữa. Vậy thì phần xấu phải giảm đi
nhiều hơn chứ, sao lại giảm đến 50% tốt?!
Còn Ngoại Chiến là Sao khắc Cung, là ngoài khắc vào trong, ví như người
trong nhà yếu thế. Khi ấy Hung Tinh thắng thế, ví như tiểu nhân đắc chí,
tha hồ tác yêu tác quái, hoành hành bá đạo. Thế thì phần Hung Hại của
chúng càng nhiều hơn, sao chỉ giảm có 30% tốt?!
phongthuymoi
Tuesday, December 13, 2016
DƯƠNG TRẠCH TAM YẾU.
Sau khi đã lược sơ qua về một số thiết kế cho nội thất như cửa cái, bếp,
phòng ngủ... và một số yếu tố ngoại vi, nay NCD xin giới thiệu với các
anh chị, các bạn một trường phái trong Phong Thuỷ, đó là trường phái
DƯƠNG TRẠCH TAM YẾU. Dương Trạch thì chúng ta đã biết là để chỉ nhà ở
của người sống chúng ta, còn Tam Yếu là gì? Theo phái này luận, thì
trong một ngôi Dương Cơ có ba điểm chính yếu, đó là: CỬA CÁI- BẾP (ở đây
ý nói là Hỏa Môn tức Hướng miệng Bếp)- SƠN CHỦ hay PHÒNG CHỦ. Do đó mới
gọi là Tam Yếu, tức chỉ ba điểm trọng yếu này.
Cũng như trường phái Bát Trạch Minh Cảnh, trường phái này cũng chia 8 cung Bát Quái ra làm hai nhóm: Đông Tứ Trạch và Tây Tứ Trạch.
_ Đông Tứ Trạch gồm các cung Khảm, Ly, Chấn, Tốn.
_ Tây Tứ Trạch gồm các cung Càn, Đoài, Cấn, Khôn.
Người có Quái số ở nhóm Đông Tứ Trạch thì ba điểm chính yếu nên an trí trong 4 cung thuộc Đông Tứ Trạch.
Ví dụ như: Người có Quái số là 9, là cung Ly, thuộc nhóm Đông Tứ Trạch; vậy thì 3 điểm chính yếu trong nhà cũng nên an vị ở các cung Khảm, Ly, Chấn, Tốn.
Người có Quái số ở nhóm Tây Tứ Trạch thì ba điểm chính yếu nên an trí trong 4 cung thuộc Tây Tứ Trạch.
Ví dụ như: Người có Quái số là 7, là cung Đoài, thuộc nhóm Tây Tứ Trạch; vậy thì ba điểm chính yếu trong nhà cũng nên an vị ở các cung thuộc Tây Tứ Trạch là Càn, Đoài, Cấn, Khôn.
1/. PHÂN LOẠI TRẠCH:
Theo trường phái Phong Thuỷ này, nhà ở được chia làm hai loại: Đơn Trạch và Phức Trạch. Sự phân chia này do việc nhà có phân ngăn hay không.
Nhà từ trước ra sau không phân chia ra ngăn nào cả thuộc về Đơn Trạch, tức là nhà đơn giản. Vậy thì ta có thể hiểu Phức Trạch nói nôm na là nhà bố trí phức tạp hơn, hay là nhà có phân ngăn. Nhà không có ngăn nào cả được gọi là TỊNH TRẠCH.
TỊNH TRẠCH thì lấy ba điểm chính yếu là: CỬA CÁI- BẾP- PHÒNG CHỦ (tức là căn phòng ngủ của gia chủ, căn phòng nằm ở một góc nào đó trong nhà).
Phức Trạch lại chia ra làm ba loại, mỗi loại có sự sắp xếp các sao trong các ngăn khác nhau. Sự phân loại này dựa trên số ngăn mà nhà đó có:
_ Từ 2 đến 5 ngăn là Động Trạch.
_ Từ 6 đến 10 ngăn là Biến Trạch.
_ Từ 11 đến 15 ngăn là Hóa Trạch.
Các loại nhà thuộc dạng Phức Trạch lấy ba điểm chính yếu là: CỬA CÁI- BẾP- và SƠN CHỦ (với SƠN CHỦ là mặt hậu của nhà, đối nghịch với hướng nhà vậy).
2/. CÁCH XÁC ĐỊNH CUNG CỦA 3 ĐIỂM CHÍNH YẾU:
_ CỬA CÁI: Từ mặt tiền nhà kéo một đường thẳng vuông góc với mặt tiền, lấy một đoạn bằng nửa chiều ngang mặt tiền. Đó chính là điểm đặt La bàn để xác định vị trí cửa cái. Dùng La bàn nhìn về hướng Cửa Cái xem đó là cung gì, đánh dấu vào sơ đồ nhà tên cung Cửa Cái.
_ BẾP: Từ trung tâm phòng Bếp (nếu là Phức Trạch), hay trung tâm nhà (nếu là Đơn Trạch), đặt La bàn nhìn về hướng Bếp, xác định xem Hỏa Môn xoay hướng gì, thì đó là cung của Bếp vậy. Cũng trong phái này có hai ý kiến khác nhau: Phái thì lấy ví trí đặt Bếp như bên Bát Trạch Minh Cảnh, là đặt ở vị trí xấu, ngó về hướng tốt; phái thì lấy vị trí đặt Bếp là tốt, ngó về hướng tốt luôn. Và hai phái này cứ tranh cãi suốt, luôn cho mình là đúng, đối phương là sai. Riêng NCD thì chủ trương theo phái đầu, tức đặt Bếp ở phương Hung trấn áp cái xấu, nhưng Miệng Bếp phải xoay hướng tốt. Tuy vậy, NCD tôi không chê cách nào cả, chỉ vì bản thân NCD thử nghiệm cách đầu trúng nên theo luôn, chưa thử qua cách sau, nếu quý vị nào muốn thì hãy thử xem.
_ PHÒNG CHỦ: Phòng Chủ không nhất thiết Trạch Chủ phải ngủ trong đó. Một căn Tịnh Trạch có thể có một phòng, có thể có nhiều phòng nhưng không phân ngăn thôi. Nếu có nhiều phòng thì phòng nào CAO-RỘNG- LỚN nhất sẽ được xem là phòng chủ.
Nếu chỉ có một phòng thì dù phòng đó nhỏ hẹp vẫn là Phòng Chủ. Một căn buồng chỉ che bằng màn, hay kê bằng tủ không được xem là Phòng Chủ; phải có tường vách hẳn hoi mới tính. Từ trung tâm nhà đặt La bàn nhìn về hướng Phòng Chủ xem đó là cung gì, thì đó là cung của Phòng Chủ vậy.
_ SƠN CHỦ: Từ vách mặt hậu, cũng làm như đối với mặt tiền, tức là kéo một đường thẳng vuông góc với mặt hậu, lấy một đoạn bằng nửa chiều ngang mặt hậu, đó là điểm đặt La bàn. Từ điểm đó, đặt La bàn nhìn về mặt hậu ấy xem là cung gì thì đó là cung của SƠN CHỦ vậy, phải nhìn theo đường vuông góc ấy mới chính xác nhé!
3/. AN DU NIÊN CHO TRẠCH:
Theo trường phái Phong Thuỷ này, một ngôi nhà có một Du niên ảnh hưởng đến sự Hưng Suy của nhà đó, tùy theo đó là Du niên tốt hay xấu. Để an Du niên cho nhà, thì TỊNH TRẠCH và PHỨC TRẠCH hơi khác một tý.
_ TỊNH TRẠCH: Từ cung của CỬA CÁI biến tới cung của PHÒNG CHỦ, được Du niên gì thì đó vừa là Du niên của PHÒNG CHỦ, vừa là Du niên của Trạch vậy.
Thí dụ: Cửa cái là ở cung Càn, còn Phòng Chủ là ở cung Cấn, hai cung biến với nhau, Càn phối Cấn là Thiên Y, vậy Du niên của Phòng Chủ là Thiên Y, mà Du niên của Trạch cũng là Thiên Y. Ta gọi đó là nhà Thiên Y Trạch.
_ PHỨC TRẠCH: Từ cung Cửa Cái biến tới cung của Sơn Chủ, được Du niên gì thì đó là Du niên của Trạch, cũng là Du niên của Sơn Chủ vậy.
Thí dụ: Cửa cái là ở cung Khảm, nhưng Sơn chủ là ở cung Khôn, hai cung Khôn, Khảm phối với nhau ra Du niên Tuyệt Mạng, vậy Du niên của Trạch là Tuyệt Mạng, và Du niên của Sơn Chủ cũng là Tuyệt Mạng vậy. Ta gọi đó là nhà Tuyệt Mạng Trạch.
Do có sự phân chia thành hai nhóm Đông Tây, nên khi phối hợp với nhau tất có tốt, có xấu. Các cung cùng nhóm phối với nhau sẽ cho ra các Du niên tốt, các cung khác nhóm khi phối với nhau sẽ cho ra các Du niên xấu vậy. Các anh chị, các bạn có thể xem lại các bài đầu trên mục Phong Thuỷ này, để thấy cách phối hợp giửa các cung Bát Quái với nhau.
Mỗi một Du niên tốt xấu đều có một Sao đi kèm với nó, và ngôi sao đó thể hiện rõ tính tốt xấu của Du niên đó. Nghĩa là: Du niên tốt thì đi kèm với Cát Tinh, Du niên xấu thì đi kèm với Hung Tinh. Dưới đây, NCD xin kê ra tên và sự tương ứng của các Du niên với các sao để các anh chị, các bạn tiện xem nhé!
_ Sanh Khí ứng với sao THAM LANG, thuộc hành MỘC.
_ Thiên Y ứng với sao CỰ MÔN, thuộc hành THỔ.
_ Diên Niên ứng với sao VŨ KHÚC, thuộc hành KIM.
_ Phục Vì ứng với sao PHỤ BẬT, thuộc hành MỘC.
_ Tuyệt Mạng ứng với sao PHÁ QUÂN, thuộc hành KIM.
_ Ngũ Quỹ ứng với sao LIÊM TRINH, thuộc hành HỎA.
_ Lục Sát ứng với sao VĂN KHÚC, thuộc hành THỦY.
_ Họa Hại ứng với sao LỘC TỒN, thuộc hành THỔ.
Cũng như trường phái Bát Trạch Minh Cảnh, trường phái này cũng chia 8 cung Bát Quái ra làm hai nhóm: Đông Tứ Trạch và Tây Tứ Trạch.
_ Đông Tứ Trạch gồm các cung Khảm, Ly, Chấn, Tốn.
_ Tây Tứ Trạch gồm các cung Càn, Đoài, Cấn, Khôn.
Người có Quái số ở nhóm Đông Tứ Trạch thì ba điểm chính yếu nên an trí trong 4 cung thuộc Đông Tứ Trạch.
Ví dụ như: Người có Quái số là 9, là cung Ly, thuộc nhóm Đông Tứ Trạch; vậy thì 3 điểm chính yếu trong nhà cũng nên an vị ở các cung Khảm, Ly, Chấn, Tốn.
Người có Quái số ở nhóm Tây Tứ Trạch thì ba điểm chính yếu nên an trí trong 4 cung thuộc Tây Tứ Trạch.
Ví dụ như: Người có Quái số là 7, là cung Đoài, thuộc nhóm Tây Tứ Trạch; vậy thì ba điểm chính yếu trong nhà cũng nên an vị ở các cung thuộc Tây Tứ Trạch là Càn, Đoài, Cấn, Khôn.
1/. PHÂN LOẠI TRẠCH:
Theo trường phái Phong Thuỷ này, nhà ở được chia làm hai loại: Đơn Trạch và Phức Trạch. Sự phân chia này do việc nhà có phân ngăn hay không.
Nhà từ trước ra sau không phân chia ra ngăn nào cả thuộc về Đơn Trạch, tức là nhà đơn giản. Vậy thì ta có thể hiểu Phức Trạch nói nôm na là nhà bố trí phức tạp hơn, hay là nhà có phân ngăn. Nhà không có ngăn nào cả được gọi là TỊNH TRẠCH.
TỊNH TRẠCH thì lấy ba điểm chính yếu là: CỬA CÁI- BẾP- PHÒNG CHỦ (tức là căn phòng ngủ của gia chủ, căn phòng nằm ở một góc nào đó trong nhà).
Phức Trạch lại chia ra làm ba loại, mỗi loại có sự sắp xếp các sao trong các ngăn khác nhau. Sự phân loại này dựa trên số ngăn mà nhà đó có:
_ Từ 2 đến 5 ngăn là Động Trạch.
_ Từ 6 đến 10 ngăn là Biến Trạch.
_ Từ 11 đến 15 ngăn là Hóa Trạch.
Các loại nhà thuộc dạng Phức Trạch lấy ba điểm chính yếu là: CỬA CÁI- BẾP- và SƠN CHỦ (với SƠN CHỦ là mặt hậu của nhà, đối nghịch với hướng nhà vậy).
2/. CÁCH XÁC ĐỊNH CUNG CỦA 3 ĐIỂM CHÍNH YẾU:
_ CỬA CÁI: Từ mặt tiền nhà kéo một đường thẳng vuông góc với mặt tiền, lấy một đoạn bằng nửa chiều ngang mặt tiền. Đó chính là điểm đặt La bàn để xác định vị trí cửa cái. Dùng La bàn nhìn về hướng Cửa Cái xem đó là cung gì, đánh dấu vào sơ đồ nhà tên cung Cửa Cái.
_ BẾP: Từ trung tâm phòng Bếp (nếu là Phức Trạch), hay trung tâm nhà (nếu là Đơn Trạch), đặt La bàn nhìn về hướng Bếp, xác định xem Hỏa Môn xoay hướng gì, thì đó là cung của Bếp vậy. Cũng trong phái này có hai ý kiến khác nhau: Phái thì lấy ví trí đặt Bếp như bên Bát Trạch Minh Cảnh, là đặt ở vị trí xấu, ngó về hướng tốt; phái thì lấy vị trí đặt Bếp là tốt, ngó về hướng tốt luôn. Và hai phái này cứ tranh cãi suốt, luôn cho mình là đúng, đối phương là sai. Riêng NCD thì chủ trương theo phái đầu, tức đặt Bếp ở phương Hung trấn áp cái xấu, nhưng Miệng Bếp phải xoay hướng tốt. Tuy vậy, NCD tôi không chê cách nào cả, chỉ vì bản thân NCD thử nghiệm cách đầu trúng nên theo luôn, chưa thử qua cách sau, nếu quý vị nào muốn thì hãy thử xem.
_ PHÒNG CHỦ: Phòng Chủ không nhất thiết Trạch Chủ phải ngủ trong đó. Một căn Tịnh Trạch có thể có một phòng, có thể có nhiều phòng nhưng không phân ngăn thôi. Nếu có nhiều phòng thì phòng nào CAO-RỘNG- LỚN nhất sẽ được xem là phòng chủ.
Nếu chỉ có một phòng thì dù phòng đó nhỏ hẹp vẫn là Phòng Chủ. Một căn buồng chỉ che bằng màn, hay kê bằng tủ không được xem là Phòng Chủ; phải có tường vách hẳn hoi mới tính. Từ trung tâm nhà đặt La bàn nhìn về hướng Phòng Chủ xem đó là cung gì, thì đó là cung của Phòng Chủ vậy.
_ SƠN CHỦ: Từ vách mặt hậu, cũng làm như đối với mặt tiền, tức là kéo một đường thẳng vuông góc với mặt hậu, lấy một đoạn bằng nửa chiều ngang mặt hậu, đó là điểm đặt La bàn. Từ điểm đó, đặt La bàn nhìn về mặt hậu ấy xem là cung gì thì đó là cung của SƠN CHỦ vậy, phải nhìn theo đường vuông góc ấy mới chính xác nhé!
3/. AN DU NIÊN CHO TRẠCH:
Theo trường phái Phong Thuỷ này, một ngôi nhà có một Du niên ảnh hưởng đến sự Hưng Suy của nhà đó, tùy theo đó là Du niên tốt hay xấu. Để an Du niên cho nhà, thì TỊNH TRẠCH và PHỨC TRẠCH hơi khác một tý.
_ TỊNH TRẠCH: Từ cung của CỬA CÁI biến tới cung của PHÒNG CHỦ, được Du niên gì thì đó vừa là Du niên của PHÒNG CHỦ, vừa là Du niên của Trạch vậy.
Thí dụ: Cửa cái là ở cung Càn, còn Phòng Chủ là ở cung Cấn, hai cung biến với nhau, Càn phối Cấn là Thiên Y, vậy Du niên của Phòng Chủ là Thiên Y, mà Du niên của Trạch cũng là Thiên Y. Ta gọi đó là nhà Thiên Y Trạch.
_ PHỨC TRẠCH: Từ cung Cửa Cái biến tới cung của Sơn Chủ, được Du niên gì thì đó là Du niên của Trạch, cũng là Du niên của Sơn Chủ vậy.
Thí dụ: Cửa cái là ở cung Khảm, nhưng Sơn chủ là ở cung Khôn, hai cung Khôn, Khảm phối với nhau ra Du niên Tuyệt Mạng, vậy Du niên của Trạch là Tuyệt Mạng, và Du niên của Sơn Chủ cũng là Tuyệt Mạng vậy. Ta gọi đó là nhà Tuyệt Mạng Trạch.
Do có sự phân chia thành hai nhóm Đông Tây, nên khi phối hợp với nhau tất có tốt, có xấu. Các cung cùng nhóm phối với nhau sẽ cho ra các Du niên tốt, các cung khác nhóm khi phối với nhau sẽ cho ra các Du niên xấu vậy. Các anh chị, các bạn có thể xem lại các bài đầu trên mục Phong Thuỷ này, để thấy cách phối hợp giửa các cung Bát Quái với nhau.
Mỗi một Du niên tốt xấu đều có một Sao đi kèm với nó, và ngôi sao đó thể hiện rõ tính tốt xấu của Du niên đó. Nghĩa là: Du niên tốt thì đi kèm với Cát Tinh, Du niên xấu thì đi kèm với Hung Tinh. Dưới đây, NCD xin kê ra tên và sự tương ứng của các Du niên với các sao để các anh chị, các bạn tiện xem nhé!
_ Sanh Khí ứng với sao THAM LANG, thuộc hành MỘC.
_ Thiên Y ứng với sao CỰ MÔN, thuộc hành THỔ.
_ Diên Niên ứng với sao VŨ KHÚC, thuộc hành KIM.
_ Phục Vì ứng với sao PHỤ BẬT, thuộc hành MỘC.
_ Tuyệt Mạng ứng với sao PHÁ QUÂN, thuộc hành KIM.
_ Ngũ Quỹ ứng với sao LIÊM TRINH, thuộc hành HỎA.
_ Lục Sát ứng với sao VĂN KHÚC, thuộc hành THỦY.
_ Họa Hại ứng với sao LỘC TỒN, thuộc hành THỔ.
GƯƠNG SOI
Trong Phong Thuỷ, Gương soi được coi như là Aspirin vậy. Nó được xem là
một trong những công cụ hóa giải rất tốt trong Phong Thuỷ. Ngay từ ngàn
xưa, khi con người chưa có thuật tráng thủy cho kiếng như hiện nay,
người ta dùng các gương đồng đánh bóng sáng lên. Ngày nay, khi các anh
chị, các bạn xem phim Trung Quốc quay về các triều đại xưa, nhà nào cũng
có 1 tấm gương đồng tròn xoay hướng ra ngoài cả, xin để ý thử xem.
Khi treo bên ngoài nhà, Gương có thể làm lệch hướng đe dọa khí (một con đường lộ đâm vào, một tòa nhà sát bên quá cao, một trại hòm, những mũi nhọn hàng rào nhà hàng xóm...). Trong các cấu trúc hiện đại, nhiều nhà cao tầng, những trung tâm thương mại hay dùng các bức tường Gương trước mặt, nó ngoài việc cho Khí đi vào còn có tác dụng ngăn ngừa những tác nhân xấu. Ta có thể dùng Gương soi thường, hay Gương lồi (làm chệch hướng sát khí đi nơi khác, hay làm lộn ngược hình nhà cao tầng áp sát..); và trong một số trường hợp Hung Sát nặng thì người ta dùng Gương Bát Quái (là dạng hình Bát Quái có gương ở giửa, có lúc gương phẳng, có lúc gương lõm, có lúc gương lồi). Đối với các đường chạy xe vào nhà (trường hợp này đa số không có ở Việt Nam), nếu là con đường dốc xuống, thì Gương lồi sẽ được áp dụng chung với một vài dụng cụ hóa sát khác để hóa giải).
Nhưng thông dụng nhất có lẽ là các trường hợp dùng Gương trong nội thất. Gương trong nội thất thì "Gương càng lớn càng tốt". Gương không được thấp hơn đầu người, cũng không nên để cao quá. Nếu Gương quá thấp, chúng sẽ tạo ra bệnh đau đầu, và làm giảm dòng khí của những người sống trong nhà. Nếu treo quá cao, chúng sẽ làm cho những người trong nhà càm thấy khó chịu.
Gương treo nội thất thường dùng cho các trường hợp: Làm đầy một góc khuyết, làm mất đi một góc lồi (như cột nhà lồi ra chẳng hạn), làm rộng một khu vực chật hẹp (chiều sâu căn phòng, một hành lang hẹp...), hóa giải cầu thang tối và hẹp, thu hút những hình ảnh đẹp đẽ từ bên ngoài vào (như một vườn hoa, một dòng sông uốn lượn hữu tình...), giúp người ở trong phòng ngủ hay nhà bếp phát hiện có người vào, hóa giải trường hợp nhà thông suốt từ trước ra sau, làm cân bằng một trần nhà cao thấp chênh lệch nhiều, tạo cảm giác tăng "nhân khẩu" (tăng bếp là hình ảnh tăng người vậy)- "lợi nhuận" (khi đếm tiền một sẽ thành hai)- "khách hàng" (một người khách có thể thành hai, ba người tùy theo số kiếng), tạo hình ảnh một cửa sổ giả ở những nơi cần trổ cửa nhưng không thể mở được, tăng cường tính năng của các câu chú- lời chúc tốt đẹp.....
Nói chung, tùy trường hợp mà sử dụng. Tuy nhiên, có một số nguyên tắc không thể phạm vào như:
_ ĐẠI KỴ treo gương soi trong phòng ngủ (nhất là phòng ngủ vợ chồng vì nó tạo cảm giác có người thứ ba, và trước sau gì cũng xày ra). Nếu vì tình trạng bất khả kháng, chẳng hạn do kiếng ốp vào cửa tủ quần áo, thì đừng xoay mặt kiếng rọi vào: đầu giường, chân giường hay kể cả ngang tầm giường. Theo khoa học thì khi ta ngủ, từ trường trong người chúng ta lúc đó là yếu nhất. Gương soi ngoài tác dụng phản xạ còn có tác dụng hút, nó sẽ làm cho dòng khí trong người ta càng yếu thêm, kết quả là sang ngày hôm sau ta sẽ thấy mệt mõi hơn.
_ Ngoài việc kích thước cao thấp như đã nói ở trên kia, khi cần hóa giải về cạnh khuyết của phòng, nếu treo gương không nên treo gương ghép, mà nên dùng gương liền 1 miếng.
_ Các gương cho hình ảnh méo mó không trung thực; các gương bị sứt mẻ, nứt, vỡ; gương mờ nên bỏ đi
_ Nếu treo gương nơi có người đi qua đi lại thường, nên để ý độ lớn của kiếng, đừng để "mất đầu", "mất chân" người, khiến người trong nhà hay bị nhức đầu, bị vấp té.
_ Không nên treo hai gương đối nhau, nó sẽ làm cho ta bối rối như mất định hướng vậy. Nhất là nhà vắng vẻ càng không nên treo hai gương đối nhau, nó sẽ khiến người trong nhà cảm thấy bất an, lúc nào cũng như có bóng người trong gương vậy.
_ TUYỆT ĐỐI TRÁNH treo gương trong phòng khách mà nhìn ra đường lớn bên ngoài, càng hung hại hơn khi đường càng đông xe qua lại (nhất là xa lộ) + gương càng lớn. Nó khiến người trong nhà luôn cảm thấy tâm trạng hoang mang, tim mạch cũng có vấn đề. Vì sao thế? Khi xe chạy trên đường, hình ảnh dòng xe đó bị hút vào gương, làm cho người trong nhà có cảm giác như mình đang ở ngoài đường lộ vậy. Các anh chị, các bạn có đủ can đảm ra ngồi giửa lộ như vậy không chứ NCD thì không dám rồi đó. Vừa điếc tai vì còi xe vừa lo ngay ngáy sợ xe tông nữa, kinh lắm!
_ Và diều cuối cùng cho gương tráng thủy là không nên lạm dụng nó. Thuốc mà dùng quá liều thì nguy đấy! Không tin bạn cứ thử vốc một nắm thuốc mà uống xem, cho dù là thuốc bổ cũng phải... bổ ngửa đấy!
Với gương Bát Quái, nó cũng là một dạng gương soi nhưng có thêm biểu tượng Bát Quái nên uy lực mạnh hơn, và cách dùng cũng khác. Gương Bát Quái dùng để treo cho trường hợp Hoá Giải bao giờ cũng là Tiên Thiên Bát Quái. Gương Bát Quái Hậu Thiên dùng để xoay chuyển hướng nhà. Xin hãy nhớ kỹ điều này! Nếu quý vị nào thấy bày bán các loại gương Hậu Thiên Bát Quái thì xin đừng thỉnh về để Hoá Giải, mà NCD nghĩ cũng không chỗ nào dại dột sản xuất vậy đâu (ai mà thỉnh? làm để ngắm à?!). Thường thì các gương Bát Quái bày bán đã có làm khoen treo sẵn, giúp bạn xác định hướng treo trên dưới. Nhưng để đề phòng tình trạng sai lệch, NCD xin chỉ rõ ra vậy: Các anh chị, các bạn cứ xem cạnh nào có 3 vạch liền, đó chính là Quẻ CÀN, là hướng lên trên, Càn vi Thiên mà! Nếu không nhớ 3 vạch liền, xin hãy nhớ câu "CÀN tam liên" (Càn là 3 vạch liền). Cái này cũng do hàm ý trên ứng với Trời, dưới hợp với Đất vậy (bởi theo Tiên Thiên Bát Quái thì trên là quẻ Càn, đối diện nó bên dưới là quẻ Khôn vậy. Thời gian vừa qua, NCD đi xem gặp rất nhiều nhà treo gương Bát Quái chẳng ra Tiên Thiên, mà cũng chẳng phải Hậu Thiên. NCD thấy kinh quá, không biết người thời đại mới này có ai mà thông minh quá, "tối chế" (chứ không phải sáng chế nữa) ra một gương Bát.... Quái Chiêu để bày bán. Do vậy, NCD xin chỉ rõ luôn để các anh chị, các bạn nào cần thỉnh gương về treo biết cách mà chọn:
_ Thứ tự từ trên cùng, theo chiều kim đồng hồ của gương Bát Quái Tiên Thiên: Càn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn, Chấn, Ly, Đoài.
_ Thứ tự từ trên cùng, theo chiều kim đồng hồ của gương Bát Quái Hậu Thiên: Ly, Khôn, Đoài, Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn.
Muốn gương Bát Quái có hiệu lưc thì sau khi thỉnh về (đừng dùng chữ mua, vì theo người xưa cho rằng Bát Quái tượng trưng cho năng lượng thiêng liêng, không thể bảo mua, vậy là bất kính với thần thánh_ hàm ý như mua thần bán thánh vậy), hãy đem tới các Chùa có các vị sư đức độ, hay đến các nơi có các thầy... Lỗ Ban, để khai mở Mắt Thần cho Bát Quái_ Đây là một hình thức phù chú, dùng chữ "ÁN LAM" trong kinh nhà Phật thôi, nhưng không thể thiếu.
Khi đã mở Mắt Thần thì gương Bát Quái mới phát huy hết tác dụng của nó, chứ không thì nó chỉ là một mảnh gương nhỏ xíu với... vài vạch sơn kẻ bên ngoài thôi, có tác dụng gì đâu?!
Khi treo gương Bát Quái nên thận trọng, không thể lạm dụng, bạ đâu cũng treo là không được. Tuy nói uy lực mạnh, nhưng có nhiều trường hợp nó lại không có tác dụng. Nếu không thì môn Phong Thuỷ đâu có gì đáng lo, cứ gặp hung sát thì treo nó là xong, nếu quý vị nào có ý nghĩ sai lầm đó xin hãy cẩn thận! Gương Bát Quái có thể nói là "con dao 2 lưỡi" trong Phong Thuỷ đấy, "chơi dao" không khéo, không đúng thì "có ngày đứt tay" nhé! Muốn treo, bạn tốt nhất nên nhờ một thầy địa lý nào gần đấy đến xem, hoặc tư vấn ai đó xem có xài được không, xin đừng tự ý thỉnh về dùng!
Với gương Bát Quái, ngoại trừ gương Bát Quái lõm, tất cả các gương Bát Quái khác có một điều ĐẠI KỴ là KHÔNG ĐƯỢC TREO TRONG NHÀ!!!
Khi treo bên ngoài nhà, Gương có thể làm lệch hướng đe dọa khí (một con đường lộ đâm vào, một tòa nhà sát bên quá cao, một trại hòm, những mũi nhọn hàng rào nhà hàng xóm...). Trong các cấu trúc hiện đại, nhiều nhà cao tầng, những trung tâm thương mại hay dùng các bức tường Gương trước mặt, nó ngoài việc cho Khí đi vào còn có tác dụng ngăn ngừa những tác nhân xấu. Ta có thể dùng Gương soi thường, hay Gương lồi (làm chệch hướng sát khí đi nơi khác, hay làm lộn ngược hình nhà cao tầng áp sát..); và trong một số trường hợp Hung Sát nặng thì người ta dùng Gương Bát Quái (là dạng hình Bát Quái có gương ở giửa, có lúc gương phẳng, có lúc gương lõm, có lúc gương lồi). Đối với các đường chạy xe vào nhà (trường hợp này đa số không có ở Việt Nam), nếu là con đường dốc xuống, thì Gương lồi sẽ được áp dụng chung với một vài dụng cụ hóa sát khác để hóa giải).
Nhưng thông dụng nhất có lẽ là các trường hợp dùng Gương trong nội thất. Gương trong nội thất thì "Gương càng lớn càng tốt". Gương không được thấp hơn đầu người, cũng không nên để cao quá. Nếu Gương quá thấp, chúng sẽ tạo ra bệnh đau đầu, và làm giảm dòng khí của những người sống trong nhà. Nếu treo quá cao, chúng sẽ làm cho những người trong nhà càm thấy khó chịu.
Gương treo nội thất thường dùng cho các trường hợp: Làm đầy một góc khuyết, làm mất đi một góc lồi (như cột nhà lồi ra chẳng hạn), làm rộng một khu vực chật hẹp (chiều sâu căn phòng, một hành lang hẹp...), hóa giải cầu thang tối và hẹp, thu hút những hình ảnh đẹp đẽ từ bên ngoài vào (như một vườn hoa, một dòng sông uốn lượn hữu tình...), giúp người ở trong phòng ngủ hay nhà bếp phát hiện có người vào, hóa giải trường hợp nhà thông suốt từ trước ra sau, làm cân bằng một trần nhà cao thấp chênh lệch nhiều, tạo cảm giác tăng "nhân khẩu" (tăng bếp là hình ảnh tăng người vậy)- "lợi nhuận" (khi đếm tiền một sẽ thành hai)- "khách hàng" (một người khách có thể thành hai, ba người tùy theo số kiếng), tạo hình ảnh một cửa sổ giả ở những nơi cần trổ cửa nhưng không thể mở được, tăng cường tính năng của các câu chú- lời chúc tốt đẹp.....
Nói chung, tùy trường hợp mà sử dụng. Tuy nhiên, có một số nguyên tắc không thể phạm vào như:
_ ĐẠI KỴ treo gương soi trong phòng ngủ (nhất là phòng ngủ vợ chồng vì nó tạo cảm giác có người thứ ba, và trước sau gì cũng xày ra). Nếu vì tình trạng bất khả kháng, chẳng hạn do kiếng ốp vào cửa tủ quần áo, thì đừng xoay mặt kiếng rọi vào: đầu giường, chân giường hay kể cả ngang tầm giường. Theo khoa học thì khi ta ngủ, từ trường trong người chúng ta lúc đó là yếu nhất. Gương soi ngoài tác dụng phản xạ còn có tác dụng hút, nó sẽ làm cho dòng khí trong người ta càng yếu thêm, kết quả là sang ngày hôm sau ta sẽ thấy mệt mõi hơn.
_ Ngoài việc kích thước cao thấp như đã nói ở trên kia, khi cần hóa giải về cạnh khuyết của phòng, nếu treo gương không nên treo gương ghép, mà nên dùng gương liền 1 miếng.
_ Các gương cho hình ảnh méo mó không trung thực; các gương bị sứt mẻ, nứt, vỡ; gương mờ nên bỏ đi
_ Nếu treo gương nơi có người đi qua đi lại thường, nên để ý độ lớn của kiếng, đừng để "mất đầu", "mất chân" người, khiến người trong nhà hay bị nhức đầu, bị vấp té.
_ Không nên treo hai gương đối nhau, nó sẽ làm cho ta bối rối như mất định hướng vậy. Nhất là nhà vắng vẻ càng không nên treo hai gương đối nhau, nó sẽ khiến người trong nhà cảm thấy bất an, lúc nào cũng như có bóng người trong gương vậy.
_ TUYỆT ĐỐI TRÁNH treo gương trong phòng khách mà nhìn ra đường lớn bên ngoài, càng hung hại hơn khi đường càng đông xe qua lại (nhất là xa lộ) + gương càng lớn. Nó khiến người trong nhà luôn cảm thấy tâm trạng hoang mang, tim mạch cũng có vấn đề. Vì sao thế? Khi xe chạy trên đường, hình ảnh dòng xe đó bị hút vào gương, làm cho người trong nhà có cảm giác như mình đang ở ngoài đường lộ vậy. Các anh chị, các bạn có đủ can đảm ra ngồi giửa lộ như vậy không chứ NCD thì không dám rồi đó. Vừa điếc tai vì còi xe vừa lo ngay ngáy sợ xe tông nữa, kinh lắm!
_ Và diều cuối cùng cho gương tráng thủy là không nên lạm dụng nó. Thuốc mà dùng quá liều thì nguy đấy! Không tin bạn cứ thử vốc một nắm thuốc mà uống xem, cho dù là thuốc bổ cũng phải... bổ ngửa đấy!
Với gương Bát Quái, nó cũng là một dạng gương soi nhưng có thêm biểu tượng Bát Quái nên uy lực mạnh hơn, và cách dùng cũng khác. Gương Bát Quái dùng để treo cho trường hợp Hoá Giải bao giờ cũng là Tiên Thiên Bát Quái. Gương Bát Quái Hậu Thiên dùng để xoay chuyển hướng nhà. Xin hãy nhớ kỹ điều này! Nếu quý vị nào thấy bày bán các loại gương Hậu Thiên Bát Quái thì xin đừng thỉnh về để Hoá Giải, mà NCD nghĩ cũng không chỗ nào dại dột sản xuất vậy đâu (ai mà thỉnh? làm để ngắm à?!). Thường thì các gương Bát Quái bày bán đã có làm khoen treo sẵn, giúp bạn xác định hướng treo trên dưới. Nhưng để đề phòng tình trạng sai lệch, NCD xin chỉ rõ ra vậy: Các anh chị, các bạn cứ xem cạnh nào có 3 vạch liền, đó chính là Quẻ CÀN, là hướng lên trên, Càn vi Thiên mà! Nếu không nhớ 3 vạch liền, xin hãy nhớ câu "CÀN tam liên" (Càn là 3 vạch liền). Cái này cũng do hàm ý trên ứng với Trời, dưới hợp với Đất vậy (bởi theo Tiên Thiên Bát Quái thì trên là quẻ Càn, đối diện nó bên dưới là quẻ Khôn vậy. Thời gian vừa qua, NCD đi xem gặp rất nhiều nhà treo gương Bát Quái chẳng ra Tiên Thiên, mà cũng chẳng phải Hậu Thiên. NCD thấy kinh quá, không biết người thời đại mới này có ai mà thông minh quá, "tối chế" (chứ không phải sáng chế nữa) ra một gương Bát.... Quái Chiêu để bày bán. Do vậy, NCD xin chỉ rõ luôn để các anh chị, các bạn nào cần thỉnh gương về treo biết cách mà chọn:
_ Thứ tự từ trên cùng, theo chiều kim đồng hồ của gương Bát Quái Tiên Thiên: Càn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn, Chấn, Ly, Đoài.
_ Thứ tự từ trên cùng, theo chiều kim đồng hồ của gương Bát Quái Hậu Thiên: Ly, Khôn, Đoài, Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn.
Muốn gương Bát Quái có hiệu lưc thì sau khi thỉnh về (đừng dùng chữ mua, vì theo người xưa cho rằng Bát Quái tượng trưng cho năng lượng thiêng liêng, không thể bảo mua, vậy là bất kính với thần thánh_ hàm ý như mua thần bán thánh vậy), hãy đem tới các Chùa có các vị sư đức độ, hay đến các nơi có các thầy... Lỗ Ban, để khai mở Mắt Thần cho Bát Quái_ Đây là một hình thức phù chú, dùng chữ "ÁN LAM" trong kinh nhà Phật thôi, nhưng không thể thiếu.
Khi đã mở Mắt Thần thì gương Bát Quái mới phát huy hết tác dụng của nó, chứ không thì nó chỉ là một mảnh gương nhỏ xíu với... vài vạch sơn kẻ bên ngoài thôi, có tác dụng gì đâu?!
Khi treo gương Bát Quái nên thận trọng, không thể lạm dụng, bạ đâu cũng treo là không được. Tuy nói uy lực mạnh, nhưng có nhiều trường hợp nó lại không có tác dụng. Nếu không thì môn Phong Thuỷ đâu có gì đáng lo, cứ gặp hung sát thì treo nó là xong, nếu quý vị nào có ý nghĩ sai lầm đó xin hãy cẩn thận! Gương Bát Quái có thể nói là "con dao 2 lưỡi" trong Phong Thuỷ đấy, "chơi dao" không khéo, không đúng thì "có ngày đứt tay" nhé! Muốn treo, bạn tốt nhất nên nhờ một thầy địa lý nào gần đấy đến xem, hoặc tư vấn ai đó xem có xài được không, xin đừng tự ý thỉnh về dùng!
Với gương Bát Quái, ngoại trừ gương Bát Quái lõm, tất cả các gương Bát Quái khác có một điều ĐẠI KỴ là KHÔNG ĐƯỢC TREO TRONG NHÀ!!!
HOÀNG TUYỀN
Nói đến HOÀNG TUYỀN là nói đến một phương vị gần như bất khả xâm phạm
trong Phong Thuỷ vậy. Bởi các Hung Phương như Thái Tuế, Ngũ Hoàng Sát,
Tam Sát thì chỉ theo năm mà di chuyển đi, còn HOÀNG TUYỀN là phương vị
cố định. Khi nhà, mộ mà xác định hướng nào đó là đã có một vài phương
hướng không thể phạm. Chữ "phạm" ở đây ý nói ở nhưỡng nơi ấy có thể
kiêng kỵ: phóng thủy (thãi nước ra), đường đi, nước chầu lại, lạch
nước...vv... thậm chí ngay cả trổ cửa, chọn ngày giờ khởi công cũng phải
tránh nó nữa đấy!.
Trước tiên, NCD tôi xin giới thiệu với các anh chị, các bạn hai loại HOÀNG TUYỀN thường được nói đến nhiều nhất trong khoa Phong Thuỷ. Đó là: TỨ LỘ HOÀNG TUYỀN và BÁT SÁT HOÀNG TUYỀN.
TỨ LỘ HOÀNG TUYỀN
Canh, Đinh KHÔN thượng thị HOÀNG TUYỀN
Ất, Bính tu phòng TỐN thủy tiên
Giáp, Quý hướng trung ưu kiến CẤN
Tân, Nhâm thủy lộ phạ đương KIỀN.
Tức là làm nhà lập hướng CANH- ĐINH nên cẩn thận với nước phương KHÔN.
CANH hướng mà thấy ở phương KHÔN có nước thì nên chảy đến, chảy đi là phạm HOÀNG TUYỀN.
ĐINH hướng mà làm nhà thì nước phương KHÔN nên chảy đi, chảy đến là phạm HOÀNG TUYỀN.
ẤT hướng thì phương TỐN nước nên chảy đi, chảy lại là phạm HOÀNG TUYỀN.
BÍNH hướng thì nước phương TỐN nên chảy chầu lại, chảy đi là phạm HOÀNG TUYỀN.
GIÁP hướng thì nước phương CẤN nên chảy lại , nếu chảy đi là phạm HOÀNG TUYỀN.
QUÝ hướng thì nước phương CẤN nên chảy đi, nếu chảy lại là phạm HOÀNG TUYỀN.
TÂN hướng thì nước ở KIỀN ( CÀN ) nên chảy đi , nếu chảy đến là phạm HOÀNG TUYỀN.
NHÂM hướng thì nước ở KIỀN nên chảy đến , chảy đi là phạm HOÀNG TUYỀN.
BÁT SÁT HOÀNG TUYỀN
Khảm Long, Khôn Thố, Chấn sơn Hầu.
Tốn Kê, Kiền Mã, Đoài Xà đầu.
Cấn Hổ, Ly Trư vi SÁT diệu.
Phạm chi MỘ-TRẠCH nhất tề hưu.
Nhà Toạ (mặt sau nhà) Khảm thì ở phương THÌN (Long là Rồng, là cung Thìn) không nên trổ Cửa, đào Giếng, kỵ thấy lạch nước.
Nhà Toạ Khôn thì ở phương MẸO là kỵ.
Nhà Toạ Chấn thì ở phương THÂN là kỵ.
Nhà Toạ Tốn thì ở phương DẬU là kỵ.
Nhà Toạ Kiền thì ở phương NGỌ là kỵ.
Nhà Toạ Đoài thì ở phương TỊ là kỵ.
Nhà Toạ Cấn thì ở phương DẦN là kỵ.
Nhà Toạ Ly thì ở phương HỢI là kỵ.
Và ngược lại cũng vậy. Tức là nhà tọa THÌN thì kỵ phương KHẢM vậy......
Ngoài ra, khi chon ngày khởi công, cũng phải TUYỆT ĐỐI TRÁNH chọn nhằm ngày phạm phải BÁT SÁT HOÀNG TUYỀN này. Đây là một yếu quyết trong nghề, nay NCD xin hé tý bí mật cho các anh chị, các bạn biết, hy vọng các anh chị, các bạn không phạm phải ĐẠI HUNG SÁT này khi làm nhà. Nhiều người không biết, khi làm nhà chỉ đến các thầy xem ngày để lựa ngày khởi công, ngày đổ mái...vv...mà không biết rằng ngày khởi công phải do một thầy địa lý chuyên nghiệp mới chọn chính xác được. Vì các thầy xem ngày chỉ ngồi tại nhà, giở sách ra xem ngày theo sách vỡ, không đến tận nơi xem hướng thì rất dễ chọn lầm những ngày Hung Kỵ so với HƯỚNG và TỌA SƠN. Không chỉ có Bát Sát Hoàng Tuyền, mà còn nhiều Hung Sát khác, Hung Tinh khác liên quan tới Sơn, Hướng và ngày giờ. Nay NCD xin chỉ ra ngày kỵ của Bát Sát Hoàng Tuyền với các Sơn tương ứng của nó:
_ CÀN sơn : kỵ ngày Bính ngọ, Nhâm ngọ.
_ KHẢM sơn : ........... Mậu Thìn, Mậu Tuất.
_ CẤN sơn : ........... Giáp Dần, Bính Dần.
_ CHẤN-TỐN : ........... Canh Thân, Tân Dậu.
_ LY : ........... Quý Hợi, Kỷ Hợi.
_ KHÔN : ........... Ất mẹo.
_ ĐOÀI : ........... Đinh Tị.
Ngoài ra, trong vấn đề về đường hướng nước của thuật Phong Thuỷ còn một vài loại Hoàng Tuyền khác như:
BÁT DIỆU SÁT THỦY
Giáp phạ lưu Dần, Ất phạ Thìn
Bính- Ngọ, Đinh- Mùi yếu thương nhân
Canh- Thân, Tân- Tuất tu dương tị
Nhâm- Hợi, Quý- Sửu thị hung thần.
BẠCH HỔ HOÀNG TUYỀN
Kiền, Giáp, Khảm, Quý, Thân, Thìn sơn
Bạch Hổ chuyển tại Đinh-Mùi gian
Cánh hữu Ly, Nhâm, Dần kiêm Tuất
Hợi sơn lưu thủy chủ ưu phiền.
Chấn, Canh, Hợi, Mùi tứ sơn kỳ
thủy nhược lưu Thân khước bất nghi.
Cánh hữu Đoài, Đinh, Tị kiêm Sửu
phạm trước Ất- Thìn Bạch Hổ khi.
Khôn, Ất nhị cung Sửu mạc phạm
thủy lai tất nam định vô nghì.
Cấn, Bính sầu phùng Ly thượng, hạ.
Tốn, Tân ngộ Khảm họa nan di.
Thử thị Hoàng Tuyền chuyên Hướng luận
Khai môn- Phóng thủy ắt sầu bi.
Trước tiên, NCD tôi xin giới thiệu với các anh chị, các bạn hai loại HOÀNG TUYỀN thường được nói đến nhiều nhất trong khoa Phong Thuỷ. Đó là: TỨ LỘ HOÀNG TUYỀN và BÁT SÁT HOÀNG TUYỀN.
TỨ LỘ HOÀNG TUYỀN
Canh, Đinh KHÔN thượng thị HOÀNG TUYỀN
Ất, Bính tu phòng TỐN thủy tiên
Giáp, Quý hướng trung ưu kiến CẤN
Tân, Nhâm thủy lộ phạ đương KIỀN.
Tức là làm nhà lập hướng CANH- ĐINH nên cẩn thận với nước phương KHÔN.
CANH hướng mà thấy ở phương KHÔN có nước thì nên chảy đến, chảy đi là phạm HOÀNG TUYỀN.
ĐINH hướng mà làm nhà thì nước phương KHÔN nên chảy đi, chảy đến là phạm HOÀNG TUYỀN.
ẤT hướng thì phương TỐN nước nên chảy đi, chảy lại là phạm HOÀNG TUYỀN.
BÍNH hướng thì nước phương TỐN nên chảy chầu lại, chảy đi là phạm HOÀNG TUYỀN.
GIÁP hướng thì nước phương CẤN nên chảy lại , nếu chảy đi là phạm HOÀNG TUYỀN.
QUÝ hướng thì nước phương CẤN nên chảy đi, nếu chảy lại là phạm HOÀNG TUYỀN.
TÂN hướng thì nước ở KIỀN ( CÀN ) nên chảy đi , nếu chảy đến là phạm HOÀNG TUYỀN.
NHÂM hướng thì nước ở KIỀN nên chảy đến , chảy đi là phạm HOÀNG TUYỀN.
BÁT SÁT HOÀNG TUYỀN
Khảm Long, Khôn Thố, Chấn sơn Hầu.
Tốn Kê, Kiền Mã, Đoài Xà đầu.
Cấn Hổ, Ly Trư vi SÁT diệu.
Phạm chi MỘ-TRẠCH nhất tề hưu.
Nhà Toạ (mặt sau nhà) Khảm thì ở phương THÌN (Long là Rồng, là cung Thìn) không nên trổ Cửa, đào Giếng, kỵ thấy lạch nước.
Nhà Toạ Khôn thì ở phương MẸO là kỵ.
Nhà Toạ Chấn thì ở phương THÂN là kỵ.
Nhà Toạ Tốn thì ở phương DẬU là kỵ.
Nhà Toạ Kiền thì ở phương NGỌ là kỵ.
Nhà Toạ Đoài thì ở phương TỊ là kỵ.
Nhà Toạ Cấn thì ở phương DẦN là kỵ.
Nhà Toạ Ly thì ở phương HỢI là kỵ.
Và ngược lại cũng vậy. Tức là nhà tọa THÌN thì kỵ phương KHẢM vậy......
Ngoài ra, khi chon ngày khởi công, cũng phải TUYỆT ĐỐI TRÁNH chọn nhằm ngày phạm phải BÁT SÁT HOÀNG TUYỀN này. Đây là một yếu quyết trong nghề, nay NCD xin hé tý bí mật cho các anh chị, các bạn biết, hy vọng các anh chị, các bạn không phạm phải ĐẠI HUNG SÁT này khi làm nhà. Nhiều người không biết, khi làm nhà chỉ đến các thầy xem ngày để lựa ngày khởi công, ngày đổ mái...vv...mà không biết rằng ngày khởi công phải do một thầy địa lý chuyên nghiệp mới chọn chính xác được. Vì các thầy xem ngày chỉ ngồi tại nhà, giở sách ra xem ngày theo sách vỡ, không đến tận nơi xem hướng thì rất dễ chọn lầm những ngày Hung Kỵ so với HƯỚNG và TỌA SƠN. Không chỉ có Bát Sát Hoàng Tuyền, mà còn nhiều Hung Sát khác, Hung Tinh khác liên quan tới Sơn, Hướng và ngày giờ. Nay NCD xin chỉ ra ngày kỵ của Bát Sát Hoàng Tuyền với các Sơn tương ứng của nó:
_ CÀN sơn : kỵ ngày Bính ngọ, Nhâm ngọ.
_ KHẢM sơn : ........... Mậu Thìn, Mậu Tuất.
_ CẤN sơn : ........... Giáp Dần, Bính Dần.
_ CHẤN-TỐN : ........... Canh Thân, Tân Dậu.
_ LY : ........... Quý Hợi, Kỷ Hợi.
_ KHÔN : ........... Ất mẹo.
_ ĐOÀI : ........... Đinh Tị.
Ngoài ra, trong vấn đề về đường hướng nước của thuật Phong Thuỷ còn một vài loại Hoàng Tuyền khác như:
BÁT DIỆU SÁT THỦY
Giáp phạ lưu Dần, Ất phạ Thìn
Bính- Ngọ, Đinh- Mùi yếu thương nhân
Canh- Thân, Tân- Tuất tu dương tị
Nhâm- Hợi, Quý- Sửu thị hung thần.
BẠCH HỔ HOÀNG TUYỀN
Kiền, Giáp, Khảm, Quý, Thân, Thìn sơn
Bạch Hổ chuyển tại Đinh-Mùi gian
Cánh hữu Ly, Nhâm, Dần kiêm Tuất
Hợi sơn lưu thủy chủ ưu phiền.
Chấn, Canh, Hợi, Mùi tứ sơn kỳ
thủy nhược lưu Thân khước bất nghi.
Cánh hữu Đoài, Đinh, Tị kiêm Sửu
phạm trước Ất- Thìn Bạch Hổ khi.
Khôn, Ất nhị cung Sửu mạc phạm
thủy lai tất nam định vô nghì.
Cấn, Bính sầu phùng Ly thượng, hạ.
Tốn, Tân ngộ Khảm họa nan di.
Thử thị Hoàng Tuyền chuyên Hướng luận
Khai môn- Phóng thủy ắt sầu bi.
GIẾNG NƯỚC
Nói đến giếng nước là ta nói đến một nhu cầu không thể thiếu trong đời
sống hàng ngày của mọi người. Ở thành thị thì còn có nước fountain,
nhưng ở một số vùng quê Việt Nam hiện nay, vẫn còn nhiều vùng xài giếng,
lấy đó làm nguồn nước sinh hoạt, ăn uống, tắm giặt..vv... Do đó, nói
đến Giếng nước là ta phải bàn đến sự tinh khiết, sạch sẽ làm đầu. Bởi
không thể nào lấy một nguồn nước nhiễm bẩn, một nguồn nước ô nhiễm, ô uế
để nấu ăn được.
Do vậy, điều đầu tiên mà NCD muốn nói đó là: Giếng phải đặt ở phương Sinh Vượng với Mạng gia chủ. Cũng như với các phần trước, dựa theo Quái số của gia chủ để tìm cung thích hợp để đặt Giếng. Ngoài ra, khoa Phong Thuỷ xưa cũng đưa ra một số phương hướng nên và không nên đặt Giếng, NCD xin đưa ra để các anh chị, các bạn tham khảo xem:
1/.Ở các phương Bát Quái: Giếng ở các phương:
_ Càn: Bị đầu nhọt lỡ, chân tê liệt, thắt cổ tự vận, bị tai nạn gãy nát đùi.
_ Khảm: Bị trộm cướp, nhiều bệnh tật.
_ Cấn: Vượng tài nhưng không con.
_ Tốn: Tài lộc đại phát.
_ Ly: Mắt yếu.
_ Khôn: Giàu có, thịnh vượng.
_ Đoài: Đại dâm, ứng vào thiếu nữ; không con.
2/.Ở các phương Địa Chi: Giếng ở các phương:
_ Tý: Sẽ sinh ra người điên cuồng.
_ Sửu: Anh em không hòa thuận, nhà có người bị câm điếc, đui mù.
_ Dần: Bị hỏa tai, bệnh hoạn.
_ Mẹo: Bị tai bay vạ gió, bệnh tật.
_ Thìn: Mọi việc đều bất lợi, gia trưởng bị nạn trước, rồi đến người nhà, có người nhảy sông tự trầm.
_ Tị: Đạt công danh nho nhỏ.
_ Ngọ: Mọi việc đều bất lợi.
_ Mùi: Có công danh, giàu sang.
_ Thân: Bị trộm cướp, khó sinh đẻ.
_ Dậu: Trước xấu sau tốt.
_ Tuất: Con nhỏ chết, con lớn bệnh, mọi việc đều bất lợi.
_ Hợi: Con cháu thông minh, thịnh vượng.
3/.Ở các phương Thiên Can: Giếng ở các phương:
_ Giáp: Sẽ được nhiều của, nhưng nhiều bệnh tật.
_ Ất: Trai, gái đều xinh đẹp.
_ Bính: Được làm quan cao.
_ Đinh: Vượng về lộc và con trai.
_ Canh: Sẽ giàu có.
_ Tân: Nam nữ trong nhà đều trong sạch, sống có đạo đức.
_ Nhâm: Phát tài, vượng nhân đinh nhưng thường có quái tật.
_ Quý: Giàu có, vàng bạc đầy nhà.
Các phương Giáp, Bính, Canh, Nhâm có Giếng, nếu gần suối sâu thì nam nữ trong nhà đều dâm loạn.
_ Không nên để nước ô uế tràn vào Giếng.
_ Làm nhà trên Giếng cũ thì bị thưa kiện.
_ Giếng sâu quá thì không tụ tài, cô quả, dâm dật.
rộng quá thì không vượng đinh, của cải lại mất dần.
dài mà sâu thì thoái tài, hại nhân khẩu.
sâu mà làm chỗ đất cao thì đàn bà trong nhà làm loạn.
_ Giếng làm sát bên phòng ngủ mà có thai thì sẽ trụy thai.
_ Trồng hoa bên Giếng thì sẽ cờ bạc, xa hoa.
_ Đắp tường quanh Giếng thì sẽ...yêu con ở (?!).
Trên đây chỉ là những yếu tố đặt Giếng theo quan điểm xưa, có rất nhiều đã không còn hợp thời nữa, nhưng NCD tôi vẫn nêu ra đây để các anh chị, các bạn cùng tham khảo. Vì hành Thuỷ là một hành khó chịu và nguy hiểm nhất trong Ngũ Hành, nên hãy hết sức cẩn thận. Nếu ai đã từng nghiên cứu qua Huyền Không tất sẽ thấy rõ điều này.
Ngoài ra, tất cả các nơi có nước ở Dương Trạch lẫn Âm Trạch đều phải tránh phạm phải HOÀNG TUYỀN. Đây là một đại kỵ trong Phong Thuỷ
Do vậy, điều đầu tiên mà NCD muốn nói đó là: Giếng phải đặt ở phương Sinh Vượng với Mạng gia chủ. Cũng như với các phần trước, dựa theo Quái số của gia chủ để tìm cung thích hợp để đặt Giếng. Ngoài ra, khoa Phong Thuỷ xưa cũng đưa ra một số phương hướng nên và không nên đặt Giếng, NCD xin đưa ra để các anh chị, các bạn tham khảo xem:
1/.Ở các phương Bát Quái: Giếng ở các phương:
_ Càn: Bị đầu nhọt lỡ, chân tê liệt, thắt cổ tự vận, bị tai nạn gãy nát đùi.
_ Khảm: Bị trộm cướp, nhiều bệnh tật.
_ Cấn: Vượng tài nhưng không con.
_ Tốn: Tài lộc đại phát.
_ Ly: Mắt yếu.
_ Khôn: Giàu có, thịnh vượng.
_ Đoài: Đại dâm, ứng vào thiếu nữ; không con.
2/.Ở các phương Địa Chi: Giếng ở các phương:
_ Tý: Sẽ sinh ra người điên cuồng.
_ Sửu: Anh em không hòa thuận, nhà có người bị câm điếc, đui mù.
_ Dần: Bị hỏa tai, bệnh hoạn.
_ Mẹo: Bị tai bay vạ gió, bệnh tật.
_ Thìn: Mọi việc đều bất lợi, gia trưởng bị nạn trước, rồi đến người nhà, có người nhảy sông tự trầm.
_ Tị: Đạt công danh nho nhỏ.
_ Ngọ: Mọi việc đều bất lợi.
_ Mùi: Có công danh, giàu sang.
_ Thân: Bị trộm cướp, khó sinh đẻ.
_ Dậu: Trước xấu sau tốt.
_ Tuất: Con nhỏ chết, con lớn bệnh, mọi việc đều bất lợi.
_ Hợi: Con cháu thông minh, thịnh vượng.
3/.Ở các phương Thiên Can: Giếng ở các phương:
_ Giáp: Sẽ được nhiều của, nhưng nhiều bệnh tật.
_ Ất: Trai, gái đều xinh đẹp.
_ Bính: Được làm quan cao.
_ Đinh: Vượng về lộc và con trai.
_ Canh: Sẽ giàu có.
_ Tân: Nam nữ trong nhà đều trong sạch, sống có đạo đức.
_ Nhâm: Phát tài, vượng nhân đinh nhưng thường có quái tật.
_ Quý: Giàu có, vàng bạc đầy nhà.
Các phương Giáp, Bính, Canh, Nhâm có Giếng, nếu gần suối sâu thì nam nữ trong nhà đều dâm loạn.
_ Không nên để nước ô uế tràn vào Giếng.
_ Làm nhà trên Giếng cũ thì bị thưa kiện.
_ Giếng sâu quá thì không tụ tài, cô quả, dâm dật.
rộng quá thì không vượng đinh, của cải lại mất dần.
dài mà sâu thì thoái tài, hại nhân khẩu.
sâu mà làm chỗ đất cao thì đàn bà trong nhà làm loạn.
_ Giếng làm sát bên phòng ngủ mà có thai thì sẽ trụy thai.
_ Trồng hoa bên Giếng thì sẽ cờ bạc, xa hoa.
_ Đắp tường quanh Giếng thì sẽ...yêu con ở (?!).
Trên đây chỉ là những yếu tố đặt Giếng theo quan điểm xưa, có rất nhiều đã không còn hợp thời nữa, nhưng NCD tôi vẫn nêu ra đây để các anh chị, các bạn cùng tham khảo. Vì hành Thuỷ là một hành khó chịu và nguy hiểm nhất trong Ngũ Hành, nên hãy hết sức cẩn thận. Nếu ai đã từng nghiên cứu qua Huyền Không tất sẽ thấy rõ điều này.
Ngoài ra, tất cả các nơi có nước ở Dương Trạch lẫn Âm Trạch đều phải tránh phạm phải HOÀNG TUYỀN. Đây là một đại kỵ trong Phong Thuỷ
Phòng tắm và Nhà vệ sinh
1/.Phòng tắm không nên ở cuối một hành lang dài: Lối đi sẽ lùa luồng khí
di chuyển nhanh trở thành Ác Khí, qua cửa Phòng tắm, làm thương tổn các
vấn đề nội tạng, cũng như sự sáng tạo của các thành viên trong nhà.
2/.Tránh làm Phòng tắm chung vách hoặc đối diện với Phòng ngủ, nếu có đối diện thì nên tránh làm hai cửa đối diện. Nhưng nếu làm Toilet chung với nó thì tốt nhất nên tránh đi.
3/.Tránh hai cửa Phòng tắm đối diện nhau: Những người cư ngụ ở đó thường có cảm giác bệnh tật chạy dọc theo đường trung tâm cơ thể của họ, hoặc phải chịu đau đớn của cơ thể, và các vấn đề về tài chánh sẽ suy giảm.
4/.Phòng tắm không nên làm hai cửa: Vì Phòng tắm là nơi tập trung nguồn nước nhiều nhất _ mà theo quan niệm Phong Thuỷ, nước là biểu tượng của tiền bạc_ nếu hai cửa, thì lợi nhuận sẽ tuôn chảy mất hết.
5/.Phòng tắm và Toilet đối diện cửa chính: Nghĩa là vừa bước vào cửa đã thấy ngay Phòng tắm hay Toilet. Ở vị trí này, Sinh Khí mới chuyển vào nhà, đã bị Phòng tắm và Toilet cuốn trôi đi hết.
6/.Phòng tắm và Toilet đối diện với nhà Bếp hoặc ở trong nhà bếp: Trường hợp này thường thấy ở những nơi diện tích nhà nhỏ hẹp, hay ở một số nhà hàng nhỏ ở Việt Nam ta. Về mặt khoa học, Bếp và Toilet gần nhau là điều mất vệ sinh. Về mặt Phong Thuỷ, Bếp là Hỏa ,Toilet là Thủy, nếu Thủy vượng tất Hỏa phải tắt, Hỏa tắt thì Bếp nguội lạnh. Một căn nhà mà Bếp nguội lạnh là điều không tốt rồi, huống hồ là một tiệm ăn, một nhà hàng, sẽ vắng khách là điều tất nhiên.
7/.Phòng tắm hay Toilet quá nhỏ: Có nhiều người suy nghĩ được nhiều điều hay, giải quyết được nhiều vấn đề, hoặc có những sáng kiến mới lạ, là cũng ngay trong những giây phút riêng tư trong Phòng tắm hay Toilet. Bởi vậy, nếu Phòng tắm hay Toilet quá nhỏ, sẽ giới hạn Sinh Khí vào nơi này. Cũng có nghĩa là giới hạn sự suy nghĩ và sáng tạo của những người có thói quen như vậy. Nhưng điều trở ngại chính là Sinh Khí vào đây gặp không gian tù túng sẽ khó luân lưu, Khí bị tù hãm, từ Sinh Khí sẽ thành Ác Khí.
8/.Phòng tắm và Toilet tối kỵ nền cao hơn nền Phòng ngủ
9/.Phòng tắm riêng thì không nên to rộng quá: Nó tạo cảm giác lạnh lẽo, thiếu sự kín đáo, nghiêm túc, khiến người tắm hay có cảm giác bất an.
10/.ĐẠI KỴ đặt Phòng tắm hay Toilet ở Đông Nam hoặc Tây Nam: Như đã nói ở các phần trước, góc Đông Nam là cung TÀI LỘC, góc Tây Nam là cung TÌNH DUYÊN và HÔN NHÂN. Như vậy, mỗi lần chúng ta tắm hay giật nước bồn cầu là mỗi lần sinh Khí bị cuốn trôi. Đó cũng có nghĩa là những may mắn, tiền bạc, Tình yêu, hạnh phúc gia đình sẽ bị cuốn trôi theo dòng nước.
Đấy là trường hợp nhà ở đô thị, Phòng tắm và Toilet ở hẳn trong nhà. Ở vùng nông thôn, các nhà Vệ sinh thường được làm riêng bên ngoài. Tuy nhiên, dù có làm ở trong hay ngoài thì nó vẫn theo một số điều căn bản bắt buộc:
_ Nhà Vệ sinh không nên đặt ở hai phương Bắc và Đông Bắc: thường khiến Nam, Nữ chủ nhân mắc bệnh động mạch xơ cứng, gan cứng, mật kết sỏi, đi lỵ, đau dạ dầy, đại tiện bí, ăn bị trúng độc, khí huyết không lưu thông. Với người già thì sức khoẻ càng không tốt .
Nếu quý vị nhận thấy bị đau lưng dai dẳng, thường ruột hay bị bệnh thì hãy kiểm tra nhà xí. Chắc chắn nhà xí ở đó đã có vấn đề không hợp.
Nếu đã lỡ đặt nhà xí tại đây và không thể dời được, thì hãy xoay hướng bàn cầu lại, tránh đặt ở 15 độ của cung Tý, và 15 độ của cung Sửu, và thêm cách Hóa giải Tà Khí.
_ Nhà Vệ sinh nên tránh đặt ở những cung địa chi trong 24 Sơn đã nói ở phần trước, vì sẽ phạm phải Thái Tuế vào những năm trùng tên với địa chi ấy, hoặc 6 năm sau phạm Tuế Phá.
Ví dụ: đặt Toilet ở cung Sửu chẳng hạn. Đến năm Sửu, sẽ phạm Thái Tuế. Sáu năm sau, đến năm Mùi, sẽ bị phạm Tuế Phá.
Đó là lý do vì sao ở trên NCD khuyên nên tránh hai cung Tý và Sửu.
_ Nhà Vệ sinh nên đặt ở những nơi nghịch với nhóm Quái số của gia chủ.
Ví dụ: Gia chủ có Quái số là 4_ cung Đoài. Thì nên tránh đặt Toilet trấn ngay cung Đoài.
Nhà Vệ sinh mà đặt nơi Sinh phương tức là phá vỡ Cát tinh, rất bất lợi.
_ Nhà Vệ sinh ĐẠI KỴ an tại trung cung (kể cả hầm cầu).
Đây là cách cục XÚ UẾ NHẬP TRUNG CUNG_ cực kỳ xấu về mặt Phong Thuỷ.
Ngoài những điều căn bản nói trên, NCD xin nhắc các anh chị, các bạn thêm ba điểm nữa:
_ Trong nhà, nếu có bất kỳ vòi nước, ống nước nào bị rò rĩ, xin hãy sửa hoặc thay ngay. Bởi Nước là Tiền mà! Để nước chảy rỉ rả như thế là hiện tượng thất thoát, hao tổn tài sản, tiền của đấy!
_ Hãy làm sạch vùng không gian Phòng tắm và Toilet: Hãy dẹp bỏ những thứ gây bề bộn trong phòng tắm như: Giỏ rác đầy ứ, chai lọ hoặc ống kem đánh răng rỗng, đĩa đựng xà bông không cần thiết, thuốc hết hạn sử dụng, mỹ phẩm khuyến mãi....không dùng đến, dầu tắm và nước hoa....không bao giờ dùng....vv..
Tất cả những thứ này đều là những thứ có thể tích tụ năng lượng Âm xấu, gây hại cho ta.
_ Nhiều người cho rằng để xóa ảnh hưởng xấu của toilet thì nên trang trí Toilet bằng tranh ảnh, chưng hoa trong đó. Nhưng theo NCD, xin khuyên các anh chị, các bạn đừng nên. Vừa lãng phí, vừa vô bổ không ích lợi gì, nếu không muốn nói là còn gây hại. Xin quý vị hãy cẩn thận!
2/.Tránh làm Phòng tắm chung vách hoặc đối diện với Phòng ngủ, nếu có đối diện thì nên tránh làm hai cửa đối diện. Nhưng nếu làm Toilet chung với nó thì tốt nhất nên tránh đi.
3/.Tránh hai cửa Phòng tắm đối diện nhau: Những người cư ngụ ở đó thường có cảm giác bệnh tật chạy dọc theo đường trung tâm cơ thể của họ, hoặc phải chịu đau đớn của cơ thể, và các vấn đề về tài chánh sẽ suy giảm.
4/.Phòng tắm không nên làm hai cửa: Vì Phòng tắm là nơi tập trung nguồn nước nhiều nhất _ mà theo quan niệm Phong Thuỷ, nước là biểu tượng của tiền bạc_ nếu hai cửa, thì lợi nhuận sẽ tuôn chảy mất hết.
5/.Phòng tắm và Toilet đối diện cửa chính: Nghĩa là vừa bước vào cửa đã thấy ngay Phòng tắm hay Toilet. Ở vị trí này, Sinh Khí mới chuyển vào nhà, đã bị Phòng tắm và Toilet cuốn trôi đi hết.
6/.Phòng tắm và Toilet đối diện với nhà Bếp hoặc ở trong nhà bếp: Trường hợp này thường thấy ở những nơi diện tích nhà nhỏ hẹp, hay ở một số nhà hàng nhỏ ở Việt Nam ta. Về mặt khoa học, Bếp và Toilet gần nhau là điều mất vệ sinh. Về mặt Phong Thuỷ, Bếp là Hỏa ,Toilet là Thủy, nếu Thủy vượng tất Hỏa phải tắt, Hỏa tắt thì Bếp nguội lạnh. Một căn nhà mà Bếp nguội lạnh là điều không tốt rồi, huống hồ là một tiệm ăn, một nhà hàng, sẽ vắng khách là điều tất nhiên.
7/.Phòng tắm hay Toilet quá nhỏ: Có nhiều người suy nghĩ được nhiều điều hay, giải quyết được nhiều vấn đề, hoặc có những sáng kiến mới lạ, là cũng ngay trong những giây phút riêng tư trong Phòng tắm hay Toilet. Bởi vậy, nếu Phòng tắm hay Toilet quá nhỏ, sẽ giới hạn Sinh Khí vào nơi này. Cũng có nghĩa là giới hạn sự suy nghĩ và sáng tạo của những người có thói quen như vậy. Nhưng điều trở ngại chính là Sinh Khí vào đây gặp không gian tù túng sẽ khó luân lưu, Khí bị tù hãm, từ Sinh Khí sẽ thành Ác Khí.
8/.Phòng tắm và Toilet tối kỵ nền cao hơn nền Phòng ngủ
9/.Phòng tắm riêng thì không nên to rộng quá: Nó tạo cảm giác lạnh lẽo, thiếu sự kín đáo, nghiêm túc, khiến người tắm hay có cảm giác bất an.
10/.ĐẠI KỴ đặt Phòng tắm hay Toilet ở Đông Nam hoặc Tây Nam: Như đã nói ở các phần trước, góc Đông Nam là cung TÀI LỘC, góc Tây Nam là cung TÌNH DUYÊN và HÔN NHÂN. Như vậy, mỗi lần chúng ta tắm hay giật nước bồn cầu là mỗi lần sinh Khí bị cuốn trôi. Đó cũng có nghĩa là những may mắn, tiền bạc, Tình yêu, hạnh phúc gia đình sẽ bị cuốn trôi theo dòng nước.
Đấy là trường hợp nhà ở đô thị, Phòng tắm và Toilet ở hẳn trong nhà. Ở vùng nông thôn, các nhà Vệ sinh thường được làm riêng bên ngoài. Tuy nhiên, dù có làm ở trong hay ngoài thì nó vẫn theo một số điều căn bản bắt buộc:
_ Nhà Vệ sinh không nên đặt ở hai phương Bắc và Đông Bắc: thường khiến Nam, Nữ chủ nhân mắc bệnh động mạch xơ cứng, gan cứng, mật kết sỏi, đi lỵ, đau dạ dầy, đại tiện bí, ăn bị trúng độc, khí huyết không lưu thông. Với người già thì sức khoẻ càng không tốt .
Nếu quý vị nhận thấy bị đau lưng dai dẳng, thường ruột hay bị bệnh thì hãy kiểm tra nhà xí. Chắc chắn nhà xí ở đó đã có vấn đề không hợp.
Nếu đã lỡ đặt nhà xí tại đây và không thể dời được, thì hãy xoay hướng bàn cầu lại, tránh đặt ở 15 độ của cung Tý, và 15 độ của cung Sửu, và thêm cách Hóa giải Tà Khí.
_ Nhà Vệ sinh nên tránh đặt ở những cung địa chi trong 24 Sơn đã nói ở phần trước, vì sẽ phạm phải Thái Tuế vào những năm trùng tên với địa chi ấy, hoặc 6 năm sau phạm Tuế Phá.
Ví dụ: đặt Toilet ở cung Sửu chẳng hạn. Đến năm Sửu, sẽ phạm Thái Tuế. Sáu năm sau, đến năm Mùi, sẽ bị phạm Tuế Phá.
Đó là lý do vì sao ở trên NCD khuyên nên tránh hai cung Tý và Sửu.
_ Nhà Vệ sinh nên đặt ở những nơi nghịch với nhóm Quái số của gia chủ.
Ví dụ: Gia chủ có Quái số là 4_ cung Đoài. Thì nên tránh đặt Toilet trấn ngay cung Đoài.
Nhà Vệ sinh mà đặt nơi Sinh phương tức là phá vỡ Cát tinh, rất bất lợi.
_ Nhà Vệ sinh ĐẠI KỴ an tại trung cung (kể cả hầm cầu).
Đây là cách cục XÚ UẾ NHẬP TRUNG CUNG_ cực kỳ xấu về mặt Phong Thuỷ.
Ngoài những điều căn bản nói trên, NCD xin nhắc các anh chị, các bạn thêm ba điểm nữa:
_ Trong nhà, nếu có bất kỳ vòi nước, ống nước nào bị rò rĩ, xin hãy sửa hoặc thay ngay. Bởi Nước là Tiền mà! Để nước chảy rỉ rả như thế là hiện tượng thất thoát, hao tổn tài sản, tiền của đấy!
_ Hãy làm sạch vùng không gian Phòng tắm và Toilet: Hãy dẹp bỏ những thứ gây bề bộn trong phòng tắm như: Giỏ rác đầy ứ, chai lọ hoặc ống kem đánh răng rỗng, đĩa đựng xà bông không cần thiết, thuốc hết hạn sử dụng, mỹ phẩm khuyến mãi....không dùng đến, dầu tắm và nước hoa....không bao giờ dùng....vv..
Tất cả những thứ này đều là những thứ có thể tích tụ năng lượng Âm xấu, gây hại cho ta.
_ Nhiều người cho rằng để xóa ảnh hưởng xấu của toilet thì nên trang trí Toilet bằng tranh ảnh, chưng hoa trong đó. Nhưng theo NCD, xin khuyên các anh chị, các bạn đừng nên. Vừa lãng phí, vừa vô bổ không ích lợi gì, nếu không muốn nói là còn gây hại. Xin quý vị hãy cẩn thận!
BẾP VÀ CÁC VỊ TRÍ ĐẶT BẾP
hướng Bếp và Miệng lò..... hoàn toàn không phải là một!
Hướng Bếp là: Mép, bìa của khuôn đặt Bếp, nó đối diện trực tiếp với mặt người nấu tức là Táo khẩu. Miệng lò là: Chỗ đưa củi vào đốt, hay nói cách khác, đó chính là Hỏa môn.
Có danh từ Táo khẩu vì: Bếp xưa kia có đóng khung bốn bên vách, vách ở Hướng Bếp được cắt đôi, chừa một khoảng trống để quét tro, than trên mặt khuôn bếp ra cho sạch sẽ. Chỗ đó làm thành cái Miệng của Bếp nên gọi là Táo khẩu. Cho nên Táo khẩu xác định Hướng bếp
Bếp ngày nay không có đóng khung bốn vách, chỉ là 1 tấm bê-tông để đặt Lò, Bếp gaz lên nấu nướng thôi. Vậy thì: Hướng bếp là bìa đối nghịch với lưng Bếp, hay nói đơn giản hơn cho dễ hiểu, Hướng Bếp chính là hướng lưng của người nấu Bếp vậy.
BẾP là nơi nấu nướng thức ăn để nuôi dưỡng chúng ta, nên có thể nói Bếp hút dưỡng chất trong không khí vào để giúp lửa cháy. Do đó, nếu Hỏa môn hút những trược khí, nghịch hay ác khí, tất sẽ đem lại những ảnh hưởng tai hại. Cũng ví như ta hút những chất độc hại đó vào thức ăn vậy.
Cho nên, Hỏa môn phải thuận hợp cung mạng của Trạch chủ.
Mặt sau của Bếp là nơi Hỏa khí thịnh vượng, vì sức lửa cháy dồn tới mà, cho nên nó có tác dụng trấn áp hung hại, cần xoay mặt sau về hướng xấu.
Mặt trước của Bếp (trước Hỏa môn và Hướng bếp) không nên trực diện với nhà xí, nhà tắm, nơi có uế khí, bồn chứa nước, bồn rửa mặt, sàn rửa chén bát, lu nước, giếng nước. Vì Thủy Hỏa tương khắc, nên nếu là Nước thì trong nhà sẽ gây gỗ, cải vã; còn nếu là ô uế thì sẽ bệnh đau.
Trước Bếp và trước trang thờ Ông Táo không nên làm phòng ngủ hay để giường ngủ, vì sẽ khiến người nằm ở đó đau tim, đau ngực, con cháu không lương thiện, gia đạo bị phá tán, tai nạn liên miên.
Không nên để Hỏa môn xoay ra phía cửa, đây là điều Đại Kỵ trong Phong Thuỷ với Bếp, nó là "Khai môn đối Táo, tài súc đa hao".
Không nên trổ cửa sổ hướng Tây trong nhà Bếp. Nghe có vẻ phi lý, nhưng theo NCD nghĩ có lẽ thuyết này có từ suy nghĩ: nắng chiều tuy nhàn nhạt nhưng rất nóng (dân gian có câu "gái thương chồng đương đông buổi chợ, trai thương vợ nắng quái chiều hôm" mà=> gái thương chồng thì thể hiện rõ rệt như buổi chợ đông, trai thương vợ tuy thấy nhàn nhạt như ánh nắng chiều_ nhưng nắng chiều nhiệt độ nóng hơn nắng sáng rất nhiều_ nhưng lại rất nồng nàn), không mở cửa sổ ở đây là tránh ánh nắng chiều rọi vào làm thức ăn dễ ôi thiu thôi.
Không nên đào hầm hố ngay trước Bếp, nếu có nước thì càng nguy, nó gây nên hư mắt, bệnh tật, xảy ra nhiều việc quái đản.
Không nên để BẾP và Giếng nước, hồ, lu nước liền kế bên nhau sẽ khiến mẹ chồng và nàng dâu bất hòa.
Bếp đặt trên đường nước, hầm nước: gia đạo ly tán, bất hòa.
Phòng ngủ và Hầm nước trước Bếp: Cô quả, tuyệt tự.
Hai bên Bếp gaz có vòi nước là quẻ Ly, tối kỵ.
Vòi nước ở giữa, hai bên là hai bếp gaz, quẻ Khảm, được.
ĐẠI KỴ để Bếp nằm dưới giường ngủ ở tầng trên.
Không nên để mặt sau của Bếp hướng về chuồng gia súc: gia súc tiêu hao; hướng về phòng ngủ: bệnh đau, tai nạn.
Về Hỏa Môn, nên xoay theo một trong bốn hướng tốt của gia chủ, và Du niên tốt của Bếp với Quái số của gia chủ, sẽ có thể hóa giải Hướng nhà xấu.
Ví dụ: Gia chủ có quái số là 1- cung Khảm, Cửa cái nhà là hướng KHÔN. Khảm_ Khôn biến du niên Tuyệt Mạng. Dùng Hỏa môn hướng về CHẤN, ta sẽ có: Khảm+ Chấn biến du niên THIÊN Y đủ sức hóa giải TUYỆT MẠNG.
Về Hỏa môn hóa giải Hướng nhà xấu, có ba trường hợp hóa giải đối với ba hướng xấu nhất, xin hãy nhớ kỹ :
_ Sanh Khí giáng Ngũ Quỷ
_ Thiên Y chế Tuyệt Mạng
_ Diên Niên yểm Lục Sát
Ngoài ra, khi xoay hướng Hỏa Môn, cần lưu ý điểm sau: Xét ba cung: Hỏa môn_ Cửa cái_ Quái số của gia chủ xem có rơi vào thuần Dương hay thuần Âm không. Vì theo Dịch lý "Cô Dương bất trưởng _ Độc Âm bất sinh". Và đây là bảng phân biệt Âm Dương của 8 cung
_ Các cung Dương: Càn, Khảm, Cấn, Chấn.
_ Các cung Âm: Tốn, Ly, Khôn, Đoài.
Nếu cung Mệnh gia chủ đã là Dương, gặp cửa cái cũng thuộc Dương, thì ta nên tìm Hỏa môn thuộc Âm
Đấy là kinh nghiệm của người đi xem nhà.
Nếu để rơi vào trường hợp Cô Dương hay Độc Âm: Ở lâu nhà đó sẽ TUYỆT TỰ.
Nếu gia chủ kém phúc thì chỉ trong một đời, chậm thì cũng chỉ tối đa là đến đời thứ ba, là nhà dần không còn con trai nối dõi, phụ nữ chấp trưởng trong nhà.
Bếp ở giữa mái hiên mà hai đầu không có cột: Chỉ sống nhờ người khác
Có xưởng lớn trước Cửa Bếp thì tán tài.
Bếp ở trước cửa: Bị Hỏa tai hay có bịnh về máu huyết.
Bếp ở liền với cối giã gạo: Có người trong nhà thắt cổ hay tự trầm.
Trước Cửa Bếp có khối đá chắn ngang: Trẻ con nhiều bệnh.
Bếp và Giếng cùng một hành lang: Con dâu và con gái lục đục.
Bếp đối diện với chuồng gà: Sinh chuyện dâm dục bị chê cười.
Bếp đặt phương Ngọ: Thường bị Hỏa tai và đau Mắt (bởi Ngọ là thuộc Ly Hỏa, nên Hỏa càng vượng, mà Hỏa vượng thì Mắt mờ_ theo y khoa).
Sau Bếp mở cửa sổ sáng láng: Tiêu hao tiền của.
Trước sau tả hữu Bếp có cửa mở xông vào: Bị thưa kiện tán tài.
Bếp đặt ở chỗ mọi người đều trông thấy: Tán tài.
Bếp đặt ở hướng Đông Bắc: Bị Thủy tai hoặc trộm cướp.
Cửa Bếp thông với Cửa Buồng: Bị bệnh thổ huyết.
VỊ TRÍ ĐẶT BẾP:
Như đã nói ở trên, BẾP nên đặt ở Hung phương nhằm trấn áp Hung khí, Tà khí ở đó. Còn Hỏa môn thì xoay một trong bốn hướng tốt, thuận hợp với Quái số của gia chủ.
Vậy thì, nếu BẾP đặt đúng vị trí thì có ích lợi gì? đặt sai vị trí thì bị hung hại gì?
Đây là 8 vị trí đặt BẾP ở các hướng trong nhà và ảnh hưởng của nó:
1/.Bếp đặt tại cung Sanh Khí của gia chủ: thì phụ nữ sinh quái thai hoặc hư thai, hay không đẻ được, hoặc có con mà không thông minh; không được tài lộc, điền địa; lục súc tổn hại.
2/.Bếp đặt tại cung Diên Niên của gia chủ: thì không thọ; hôn nhân không thành, nếu đã có gia đình thì vợ chồng bất hòa hợp; tốn của; hao người; bệnh hoạn; cùng quẩn.
3/.Bếp đặt tại cung Thiên Y của gia chủ: thì lâm bệnh nặng, thân thể ốm yếu, phục thuốc thang lâu khỏi.
4/.Bếp đặt tại cung Phục Vì của gia chủ: thì vô tài; vô thọ; suốt đời nghèo khổ.
5/.Bếp đặt tại cung Tuyệt Mạng của gia chủ: thì không bệnh tật, tăng thọ, phát tài, nhiều con, tìm được gia nô, không bị Hỏa tai.
6/.Bếp đặt tại cung Lục Sát của gia chủ: thì phát cả Đinh lẫn Tài (là người lẫn của), vô bệnh tật, vô kiện cáo, vô Hỏa tai, cửa nhà yên ổn.
7/.Bếp đặt tại cung Ngũ Quỷ của gia chủ: thì vô Hỏa tai, vô đạo tặc (không trộm cướp), gia nô (người giúp việc) trung thành- cần mẫn- đắc lực, vô bệnh hoạn, phát tài, lục súc thịnh vượng.
8/.Bếp đặt tại cung Họa Hại của gia chủ: thì bất thoái tài, bất thương nhân (là không hao tổn tiền của, không hại người), vô bệnh hoạn, vô kiện tụng.
Ngoài ra, trong việc đặt vị trí Bếp, khoa Phong Thuỷ còn tính chi li hơn khi tính đến vị trí của từng Sơn. Đọc đến đây là các anh chị, các bạn đã tiến thêm một bước nữa vào khoa Phong Thuỷ, vì bây giờ không chỉ nói đến tám hướng Bát Quái căn bản nữa, mà mỗi hướng Bát Quái lại chia ra 3 Sơn nhỏ trong đó nữa. Cụ thể như sau:
_ Càn gồm ba Sơn: TUẤT-CÀN-HỢI.
_ Khàm gồm ba Sơn: NHÂM-TÝ-QUÝ.
_ Cấn gồm ba Sơn: SỬU-CẤN-DẦN.
_ Chấn gồm ba Sơn: GIÁP-MẸO-ẤT.
_ Tốn gồm ba Sơn: THÌN-TỐN-Tỵ .
_ Ly gồm ba Sơn: BÍNH-NGỌ-ĐINH.
_ Khôn gồm ba Sơn: MÙI-KHÔN-THÂN.
_ Đoài gồm ba Sơn: CANH-DẬU-TÂN.
Đến đây, hẳn các anh chị, các bạn có thể thấy những tên gọi này hơi quen quen phải không? Xin thưa, trở ngược lên trên các anh chị, các bạn sẽ thấy ngay hình vòng tròn Bát Quái có 24 Sơn này, và không chỉ thế, nó còn có thêm các chấm tròn trắng hoặc đen ngay kế bên nữa. Rất dễ xác định Sơn nào tốt để đặt Bếp, xin cứ chọn những ô có chấm tròn trắng là Cát, đen là Hung. Và NCD xin đăng luôn một bài thiệu để các anh chị, các bạn dễ nhớ:
Táo (tức là BẾP đấy quý vị) nhập CÀN cung thị diệt môn (thế nào cũng chết người).
NHÂM- HỢI nhị vị tổn nhi tôn ( là hại con cháu ).
GIÁP- DẦN đắc tài, THÌN- MẸO phú.
ẤT- CẤN tao(là tao ngộ ) Hỏa tất tai ôn (là gặp tai họa, bệnh tật).
TÝ- QUÝ- KHÔN cung gia bần khốn (là nhà nghèo khổ, nạn tai liên miên).
SỬU thương lục súc, phúc nan tồn (khó nuôi súc vật, phúc đức tiêu hết).
TỴ- BÍNH ích tàm, CANH đại cát ( Ích tàm là lợi về nuôi tằm, dệt vải).
Nhược phùng NGỌ vị vượng nhi tôn (nhiều con cháu).
TÂN- DẬU- ĐINH phương đa tật bệnh (nhiều bệnh tật).
TỐN- THÂN- MÙI- TUẤT trạch hanh xương (hanh thông, thuận lợi mọi việc).
CẦU TỬ BÍ PHÁP:
Cầu tử ở đây là cầu con đấy, xin đừng hiểu lầm là chữ Tử kia thì phiền lắm đa!
Theo các " tiền bối " xưa thì có hai cách qua việc đặt Bếp, nhưng qua kinh nghiệm đi xem của NCD tôi, thì thấy cách thứ hai ứng nghiệm xác suất cao hơn. Tuy nhiên, tôi cũng ghi ra đây cả hai cách để các anh chị, các bạn tham khảo và thử xem:
1/.Đặt BẾP trấn tại Hung phương của gia chủ và Hỏa môn xoay hướng SANH KHÍ sẽ sớm sinh quý tử.
2/. Đặt BẾP trấn tại Hung phương và Hỏa môn xoay hướng PHỤC VÌ của gia chủ, đến năm sao THIÊN ẤT QUÝ NHÂN chiếu đến cung này sẽ ứng nghiệm ngay. Thế sao THIÊN ẤT QUÝ NHÂN là gì? Đó là sao Nhị Hắc đấy, là sao số 2 đó quý vị. Còn cách tính đường đi của sao đây :
4 9 2 tốn ly khôn
3 5 7 chấn trung đoài
8 1 6 cấn khảm càn
Ở đây tôi không muốn đi sâu vào phần nguồn gốc các ô vuông này, chỉ nói về đường di chuyển của các sao. Xin quý vị lưu ý cho, phần tính đường đi của các sao này rất quan trọng, sau này khi nghiên cứu về Huyền Không, thì đây là cách di chuyển của các sao, còn gọi là phép Lường Thiên Xích.
Luôn luôn khởi từ Trung cung (cung giửa) và kế đến là ô số 6, rồi ô số 7, rồi ô số 8... cho đến ô số 4, rồi quay lại Trung cung, cứ thế mà di chuyển. Để cho dễ nhớ, quý vị hãy thuộc làu thứ tự sau:
Nhất KHẢM- Nhì KHÔN- Tam CHẤN- Tứ TỐN- Ngũ TRUNG- Lục CÀN- Thất ĐOÀI- Bát CẤN- Cửu LY.
Đó là ô vuông căn bản, nếu ô giửa không phải là số 5 thì cũng vậy, đường di chuyển cũng vậy, và các số cứ tăng dần, hay giảm dần theo đường di chuyển đó.
Ví dụ: Cho số 8 vào giửa chẳng hạn, ô vuông lúc đó sẽ thành thế này sau khi di chuyển các SAO
7 3 5 Vì sao số 8 ở giửa nên sao số 9 di chuyển xuống theo thứ
tự đến ô góc Tây Bắc và an ở đó; kế số 9 là số 1 sẽ
6 8 1 chuyển theo đường như vậy lên an ở ô hướng tây...
cứ vậy mà di chuyển. Khi quý vị đã nhớ đường
2 4 9 ô vuông Lạc Thư rồi thì rất dễ, bước đầu có hơi khó một tí, nhưng xin hãy cố
mà nhớ đường đi này của các Sao, vì sau này nó ứng dụng rất nhiều trong việc
hỗ trợ chúng ta trong việc nghiên cứu phái Huyền Không.
Xin trở lại với Sao THIÊN ẤT kia, như đã nói nó là sao số 2. Vậy bây giờ, giả sử gia chủ có quái số là 8 chẳng hạn. Ta xoay Hỏa môn hướng Phục vì tức là xoay hướng cung CẤN
Xem hình căn bản, ta thấy để đi đến cung này, từ trung cung phải đếm tới 3 cung nữa. Bây giờ, điều ta cần là số 2 ở đó, tức là: số 1 ở Đoài, số 9 ở CÀN, số 8 ở giữa.
Vậy khi nào số 8 ở giữa? Con số ở giửa là con số của Sao chủ tinh năm đó.
Vậy làm sao tìm Sao chủ tinh của năm ?
Xin mách các anh chị, các bạn một cách tìm cực kỳ nhanh khỏi cần phải tra sách do NCD để ý thấy: Xin tính Quái số của Nam năm cần tìm, thì đó là Sao chủ năm đó
Ví dụ: Năm 1987, tìm xem Sao chủ năm đó là gì nhé, ta tính y như tìm Quái số
8+7=15
1+5=6
10-6=4
Vậy năm đó Sao số 4 nằm ở Trung cung. Đưa số 4 vào giửa rồi di chuyển các sao, ta sẽ có 9 ô vuông năm đó là: 3 8 1
2 4 6
7 9 5
Ví dụ nữa ở thời điểm năm sau đi: năm 2010
0+1=1
vì sau năm 2000 nên không lấy 10 mà chỉ lấy 9 trừ đi thôi, xin đừng quên!
9-1=8
vậy Sao chủ tinh của năm nay là số 8, hay nói cách khác, năm 2010 số 8 nằm ở trung cung
Nhập số 8 vào giửa rồi di chuyển theo hướng đi căn bản ở trên, ta có 9 ô sau :
7 3 5
6 8 1
2 4 9
Vậy sang năm sau số 2 cần tìm nằm ở cung Cấn
Có nghĩa là những ai có quái số là 8, xoay Hỏa môn hướng Đông Bắc, sang năm sẽ sinh con (wao, dĩ nhiên ở đây là NCD nói những ai có gia đình và muốn có con đó nghen! Chứ những người không có gia đình mà hỏi cắc cớ là tội NCD lắm; hay là có gia đình mà chưa muốn có con, đi kế hoạch thì làm sao có con được?! Cái gì cũng phải hợp lý phải không quý vị?)
Cái vụ này rắc rối quá, thôi thư giản chút vậy.
NCD xin chỉ vụ này dễ hơn và tin rằng ai cũng muốn biết, đó là Cầu Tài Bí Pháp
Cái này thì rất đơn giản, chỉ cần đặt BẾP trấn Hung phương, Hỏa môn xoay hướng Diên Niên, thế là....xong! đơn giản không?
Dĩ nhiên, bất cứ làm việc gì trong khoa Phong Thuỷ này cũng cần xem ngày giờ, và đó là điều...QUAN TRỌNG NHẤT!!!
Hướng Bếp là: Mép, bìa của khuôn đặt Bếp, nó đối diện trực tiếp với mặt người nấu tức là Táo khẩu. Miệng lò là: Chỗ đưa củi vào đốt, hay nói cách khác, đó chính là Hỏa môn.
Có danh từ Táo khẩu vì: Bếp xưa kia có đóng khung bốn bên vách, vách ở Hướng Bếp được cắt đôi, chừa một khoảng trống để quét tro, than trên mặt khuôn bếp ra cho sạch sẽ. Chỗ đó làm thành cái Miệng của Bếp nên gọi là Táo khẩu. Cho nên Táo khẩu xác định Hướng bếp
Bếp ngày nay không có đóng khung bốn vách, chỉ là 1 tấm bê-tông để đặt Lò, Bếp gaz lên nấu nướng thôi. Vậy thì: Hướng bếp là bìa đối nghịch với lưng Bếp, hay nói đơn giản hơn cho dễ hiểu, Hướng Bếp chính là hướng lưng của người nấu Bếp vậy.
BẾP là nơi nấu nướng thức ăn để nuôi dưỡng chúng ta, nên có thể nói Bếp hút dưỡng chất trong không khí vào để giúp lửa cháy. Do đó, nếu Hỏa môn hút những trược khí, nghịch hay ác khí, tất sẽ đem lại những ảnh hưởng tai hại. Cũng ví như ta hút những chất độc hại đó vào thức ăn vậy.
Cho nên, Hỏa môn phải thuận hợp cung mạng của Trạch chủ.
Mặt sau của Bếp là nơi Hỏa khí thịnh vượng, vì sức lửa cháy dồn tới mà, cho nên nó có tác dụng trấn áp hung hại, cần xoay mặt sau về hướng xấu.
Mặt trước của Bếp (trước Hỏa môn và Hướng bếp) không nên trực diện với nhà xí, nhà tắm, nơi có uế khí, bồn chứa nước, bồn rửa mặt, sàn rửa chén bát, lu nước, giếng nước. Vì Thủy Hỏa tương khắc, nên nếu là Nước thì trong nhà sẽ gây gỗ, cải vã; còn nếu là ô uế thì sẽ bệnh đau.
Trước Bếp và trước trang thờ Ông Táo không nên làm phòng ngủ hay để giường ngủ, vì sẽ khiến người nằm ở đó đau tim, đau ngực, con cháu không lương thiện, gia đạo bị phá tán, tai nạn liên miên.
Không nên để Hỏa môn xoay ra phía cửa, đây là điều Đại Kỵ trong Phong Thuỷ với Bếp, nó là "Khai môn đối Táo, tài súc đa hao".
Không nên trổ cửa sổ hướng Tây trong nhà Bếp. Nghe có vẻ phi lý, nhưng theo NCD nghĩ có lẽ thuyết này có từ suy nghĩ: nắng chiều tuy nhàn nhạt nhưng rất nóng (dân gian có câu "gái thương chồng đương đông buổi chợ, trai thương vợ nắng quái chiều hôm" mà=> gái thương chồng thì thể hiện rõ rệt như buổi chợ đông, trai thương vợ tuy thấy nhàn nhạt như ánh nắng chiều_ nhưng nắng chiều nhiệt độ nóng hơn nắng sáng rất nhiều_ nhưng lại rất nồng nàn), không mở cửa sổ ở đây là tránh ánh nắng chiều rọi vào làm thức ăn dễ ôi thiu thôi.
Không nên đào hầm hố ngay trước Bếp, nếu có nước thì càng nguy, nó gây nên hư mắt, bệnh tật, xảy ra nhiều việc quái đản.
Không nên để BẾP và Giếng nước, hồ, lu nước liền kế bên nhau sẽ khiến mẹ chồng và nàng dâu bất hòa.
Bếp đặt trên đường nước, hầm nước: gia đạo ly tán, bất hòa.
Phòng ngủ và Hầm nước trước Bếp: Cô quả, tuyệt tự.
Hai bên Bếp gaz có vòi nước là quẻ Ly, tối kỵ.
Vòi nước ở giữa, hai bên là hai bếp gaz, quẻ Khảm, được.
ĐẠI KỴ để Bếp nằm dưới giường ngủ ở tầng trên.
Không nên để mặt sau của Bếp hướng về chuồng gia súc: gia súc tiêu hao; hướng về phòng ngủ: bệnh đau, tai nạn.
Về Hỏa Môn, nên xoay theo một trong bốn hướng tốt của gia chủ, và Du niên tốt của Bếp với Quái số của gia chủ, sẽ có thể hóa giải Hướng nhà xấu.
Ví dụ: Gia chủ có quái số là 1- cung Khảm, Cửa cái nhà là hướng KHÔN. Khảm_ Khôn biến du niên Tuyệt Mạng. Dùng Hỏa môn hướng về CHẤN, ta sẽ có: Khảm+ Chấn biến du niên THIÊN Y đủ sức hóa giải TUYỆT MẠNG.
Về Hỏa môn hóa giải Hướng nhà xấu, có ba trường hợp hóa giải đối với ba hướng xấu nhất, xin hãy nhớ kỹ :
_ Sanh Khí giáng Ngũ Quỷ
_ Thiên Y chế Tuyệt Mạng
_ Diên Niên yểm Lục Sát
Ngoài ra, khi xoay hướng Hỏa Môn, cần lưu ý điểm sau: Xét ba cung: Hỏa môn_ Cửa cái_ Quái số của gia chủ xem có rơi vào thuần Dương hay thuần Âm không. Vì theo Dịch lý "Cô Dương bất trưởng _ Độc Âm bất sinh". Và đây là bảng phân biệt Âm Dương của 8 cung
_ Các cung Dương: Càn, Khảm, Cấn, Chấn.
_ Các cung Âm: Tốn, Ly, Khôn, Đoài.
Nếu cung Mệnh gia chủ đã là Dương, gặp cửa cái cũng thuộc Dương, thì ta nên tìm Hỏa môn thuộc Âm
Đấy là kinh nghiệm của người đi xem nhà.
Nếu để rơi vào trường hợp Cô Dương hay Độc Âm: Ở lâu nhà đó sẽ TUYỆT TỰ.
Nếu gia chủ kém phúc thì chỉ trong một đời, chậm thì cũng chỉ tối đa là đến đời thứ ba, là nhà dần không còn con trai nối dõi, phụ nữ chấp trưởng trong nhà.
Bếp ở giữa mái hiên mà hai đầu không có cột: Chỉ sống nhờ người khác
Có xưởng lớn trước Cửa Bếp thì tán tài.
Bếp ở trước cửa: Bị Hỏa tai hay có bịnh về máu huyết.
Bếp ở liền với cối giã gạo: Có người trong nhà thắt cổ hay tự trầm.
Trước Cửa Bếp có khối đá chắn ngang: Trẻ con nhiều bệnh.
Bếp và Giếng cùng một hành lang: Con dâu và con gái lục đục.
Bếp đối diện với chuồng gà: Sinh chuyện dâm dục bị chê cười.
Bếp đặt phương Ngọ: Thường bị Hỏa tai và đau Mắt (bởi Ngọ là thuộc Ly Hỏa, nên Hỏa càng vượng, mà Hỏa vượng thì Mắt mờ_ theo y khoa).
Sau Bếp mở cửa sổ sáng láng: Tiêu hao tiền của.
Trước sau tả hữu Bếp có cửa mở xông vào: Bị thưa kiện tán tài.
Bếp đặt ở chỗ mọi người đều trông thấy: Tán tài.
Bếp đặt ở hướng Đông Bắc: Bị Thủy tai hoặc trộm cướp.
Cửa Bếp thông với Cửa Buồng: Bị bệnh thổ huyết.
VỊ TRÍ ĐẶT BẾP:
Như đã nói ở trên, BẾP nên đặt ở Hung phương nhằm trấn áp Hung khí, Tà khí ở đó. Còn Hỏa môn thì xoay một trong bốn hướng tốt, thuận hợp với Quái số của gia chủ.
Vậy thì, nếu BẾP đặt đúng vị trí thì có ích lợi gì? đặt sai vị trí thì bị hung hại gì?
Đây là 8 vị trí đặt BẾP ở các hướng trong nhà và ảnh hưởng của nó:
1/.Bếp đặt tại cung Sanh Khí của gia chủ: thì phụ nữ sinh quái thai hoặc hư thai, hay không đẻ được, hoặc có con mà không thông minh; không được tài lộc, điền địa; lục súc tổn hại.
2/.Bếp đặt tại cung Diên Niên của gia chủ: thì không thọ; hôn nhân không thành, nếu đã có gia đình thì vợ chồng bất hòa hợp; tốn của; hao người; bệnh hoạn; cùng quẩn.
3/.Bếp đặt tại cung Thiên Y của gia chủ: thì lâm bệnh nặng, thân thể ốm yếu, phục thuốc thang lâu khỏi.
4/.Bếp đặt tại cung Phục Vì của gia chủ: thì vô tài; vô thọ; suốt đời nghèo khổ.
5/.Bếp đặt tại cung Tuyệt Mạng của gia chủ: thì không bệnh tật, tăng thọ, phát tài, nhiều con, tìm được gia nô, không bị Hỏa tai.
6/.Bếp đặt tại cung Lục Sát của gia chủ: thì phát cả Đinh lẫn Tài (là người lẫn của), vô bệnh tật, vô kiện cáo, vô Hỏa tai, cửa nhà yên ổn.
7/.Bếp đặt tại cung Ngũ Quỷ của gia chủ: thì vô Hỏa tai, vô đạo tặc (không trộm cướp), gia nô (người giúp việc) trung thành- cần mẫn- đắc lực, vô bệnh hoạn, phát tài, lục súc thịnh vượng.
8/.Bếp đặt tại cung Họa Hại của gia chủ: thì bất thoái tài, bất thương nhân (là không hao tổn tiền của, không hại người), vô bệnh hoạn, vô kiện tụng.
Ngoài ra, trong việc đặt vị trí Bếp, khoa Phong Thuỷ còn tính chi li hơn khi tính đến vị trí của từng Sơn. Đọc đến đây là các anh chị, các bạn đã tiến thêm một bước nữa vào khoa Phong Thuỷ, vì bây giờ không chỉ nói đến tám hướng Bát Quái căn bản nữa, mà mỗi hướng Bát Quái lại chia ra 3 Sơn nhỏ trong đó nữa. Cụ thể như sau:
_ Càn gồm ba Sơn: TUẤT-CÀN-HỢI.
_ Khàm gồm ba Sơn: NHÂM-TÝ-QUÝ.
_ Cấn gồm ba Sơn: SỬU-CẤN-DẦN.
_ Chấn gồm ba Sơn: GIÁP-MẸO-ẤT.
_ Tốn gồm ba Sơn: THÌN-TỐN-Tỵ .
_ Ly gồm ba Sơn: BÍNH-NGỌ-ĐINH.
_ Khôn gồm ba Sơn: MÙI-KHÔN-THÂN.
_ Đoài gồm ba Sơn: CANH-DẬU-TÂN.
Đến đây, hẳn các anh chị, các bạn có thể thấy những tên gọi này hơi quen quen phải không? Xin thưa, trở ngược lên trên các anh chị, các bạn sẽ thấy ngay hình vòng tròn Bát Quái có 24 Sơn này, và không chỉ thế, nó còn có thêm các chấm tròn trắng hoặc đen ngay kế bên nữa. Rất dễ xác định Sơn nào tốt để đặt Bếp, xin cứ chọn những ô có chấm tròn trắng là Cát, đen là Hung. Và NCD xin đăng luôn một bài thiệu để các anh chị, các bạn dễ nhớ:
Táo (tức là BẾP đấy quý vị) nhập CÀN cung thị diệt môn (thế nào cũng chết người).
NHÂM- HỢI nhị vị tổn nhi tôn ( là hại con cháu ).
GIÁP- DẦN đắc tài, THÌN- MẸO phú.
ẤT- CẤN tao(là tao ngộ ) Hỏa tất tai ôn (là gặp tai họa, bệnh tật).
TÝ- QUÝ- KHÔN cung gia bần khốn (là nhà nghèo khổ, nạn tai liên miên).
SỬU thương lục súc, phúc nan tồn (khó nuôi súc vật, phúc đức tiêu hết).
TỴ- BÍNH ích tàm, CANH đại cát ( Ích tàm là lợi về nuôi tằm, dệt vải).
Nhược phùng NGỌ vị vượng nhi tôn (nhiều con cháu).
TÂN- DẬU- ĐINH phương đa tật bệnh (nhiều bệnh tật).
TỐN- THÂN- MÙI- TUẤT trạch hanh xương (hanh thông, thuận lợi mọi việc).
CẦU TỬ BÍ PHÁP:
Cầu tử ở đây là cầu con đấy, xin đừng hiểu lầm là chữ Tử kia thì phiền lắm đa!
Theo các " tiền bối " xưa thì có hai cách qua việc đặt Bếp, nhưng qua kinh nghiệm đi xem của NCD tôi, thì thấy cách thứ hai ứng nghiệm xác suất cao hơn. Tuy nhiên, tôi cũng ghi ra đây cả hai cách để các anh chị, các bạn tham khảo và thử xem:
1/.Đặt BẾP trấn tại Hung phương của gia chủ và Hỏa môn xoay hướng SANH KHÍ sẽ sớm sinh quý tử.
2/. Đặt BẾP trấn tại Hung phương và Hỏa môn xoay hướng PHỤC VÌ của gia chủ, đến năm sao THIÊN ẤT QUÝ NHÂN chiếu đến cung này sẽ ứng nghiệm ngay. Thế sao THIÊN ẤT QUÝ NHÂN là gì? Đó là sao Nhị Hắc đấy, là sao số 2 đó quý vị. Còn cách tính đường đi của sao đây :
4 9 2 tốn ly khôn
3 5 7 chấn trung đoài
8 1 6 cấn khảm càn
Ở đây tôi không muốn đi sâu vào phần nguồn gốc các ô vuông này, chỉ nói về đường di chuyển của các sao. Xin quý vị lưu ý cho, phần tính đường đi của các sao này rất quan trọng, sau này khi nghiên cứu về Huyền Không, thì đây là cách di chuyển của các sao, còn gọi là phép Lường Thiên Xích.
Luôn luôn khởi từ Trung cung (cung giửa) và kế đến là ô số 6, rồi ô số 7, rồi ô số 8... cho đến ô số 4, rồi quay lại Trung cung, cứ thế mà di chuyển. Để cho dễ nhớ, quý vị hãy thuộc làu thứ tự sau:
Nhất KHẢM- Nhì KHÔN- Tam CHẤN- Tứ TỐN- Ngũ TRUNG- Lục CÀN- Thất ĐOÀI- Bát CẤN- Cửu LY.
Đó là ô vuông căn bản, nếu ô giửa không phải là số 5 thì cũng vậy, đường di chuyển cũng vậy, và các số cứ tăng dần, hay giảm dần theo đường di chuyển đó.
Ví dụ: Cho số 8 vào giửa chẳng hạn, ô vuông lúc đó sẽ thành thế này sau khi di chuyển các SAO
7 3 5 Vì sao số 8 ở giửa nên sao số 9 di chuyển xuống theo thứ
tự đến ô góc Tây Bắc và an ở đó; kế số 9 là số 1 sẽ
6 8 1 chuyển theo đường như vậy lên an ở ô hướng tây...
cứ vậy mà di chuyển. Khi quý vị đã nhớ đường
2 4 9 ô vuông Lạc Thư rồi thì rất dễ, bước đầu có hơi khó một tí, nhưng xin hãy cố
mà nhớ đường đi này của các Sao, vì sau này nó ứng dụng rất nhiều trong việc
hỗ trợ chúng ta trong việc nghiên cứu phái Huyền Không.
Xin trở lại với Sao THIÊN ẤT kia, như đã nói nó là sao số 2. Vậy bây giờ, giả sử gia chủ có quái số là 8 chẳng hạn. Ta xoay Hỏa môn hướng Phục vì tức là xoay hướng cung CẤN
Xem hình căn bản, ta thấy để đi đến cung này, từ trung cung phải đếm tới 3 cung nữa. Bây giờ, điều ta cần là số 2 ở đó, tức là: số 1 ở Đoài, số 9 ở CÀN, số 8 ở giữa.
Vậy khi nào số 8 ở giữa? Con số ở giửa là con số của Sao chủ tinh năm đó.
Vậy làm sao tìm Sao chủ tinh của năm ?
Xin mách các anh chị, các bạn một cách tìm cực kỳ nhanh khỏi cần phải tra sách do NCD để ý thấy: Xin tính Quái số của Nam năm cần tìm, thì đó là Sao chủ năm đó
Ví dụ: Năm 1987, tìm xem Sao chủ năm đó là gì nhé, ta tính y như tìm Quái số
8+7=15
1+5=6
10-6=4
Vậy năm đó Sao số 4 nằm ở Trung cung. Đưa số 4 vào giửa rồi di chuyển các sao, ta sẽ có 9 ô vuông năm đó là: 3 8 1
2 4 6
7 9 5
Ví dụ nữa ở thời điểm năm sau đi: năm 2010
0+1=1
vì sau năm 2000 nên không lấy 10 mà chỉ lấy 9 trừ đi thôi, xin đừng quên!
9-1=8
vậy Sao chủ tinh của năm nay là số 8, hay nói cách khác, năm 2010 số 8 nằm ở trung cung
Nhập số 8 vào giửa rồi di chuyển theo hướng đi căn bản ở trên, ta có 9 ô sau :
7 3 5
6 8 1
2 4 9
Vậy sang năm sau số 2 cần tìm nằm ở cung Cấn
Có nghĩa là những ai có quái số là 8, xoay Hỏa môn hướng Đông Bắc, sang năm sẽ sinh con (wao, dĩ nhiên ở đây là NCD nói những ai có gia đình và muốn có con đó nghen! Chứ những người không có gia đình mà hỏi cắc cớ là tội NCD lắm; hay là có gia đình mà chưa muốn có con, đi kế hoạch thì làm sao có con được?! Cái gì cũng phải hợp lý phải không quý vị?)
Cái vụ này rắc rối quá, thôi thư giản chút vậy.
NCD xin chỉ vụ này dễ hơn và tin rằng ai cũng muốn biết, đó là Cầu Tài Bí Pháp
Cái này thì rất đơn giản, chỉ cần đặt BẾP trấn Hung phương, Hỏa môn xoay hướng Diên Niên, thế là....xong! đơn giản không?
Dĩ nhiên, bất cứ làm việc gì trong khoa Phong Thuỷ này cũng cần xem ngày giờ, và đó là điều...QUAN TRỌNG NHẤT!!!
Subscribe to:
Posts (Atom)