Tuesday, December 13, 2016

PHIÊN TINH (sắp xếp Sao)

A.TỊNH TRẠCH


Với Tịnh Trạch thì rất đơn giản. Từ cung Cửa Cái, biến tới cung Phòng Chủ xem được Du niên gì , thì đó là Du niên của Phòng Chủ, cũng là Du niên của Trạch. Đương nhiên vì Sao tương ứng với Du Niên đó cũng là Sao của Phòng Chủ, và là Sao của Trạch luôn vậy.
Từ cung Cửa Cái , biến tới cung của Cửa Buồng, ta sẽ có Du niên & Sao của Cửa Buồng_ đây là một yếu tố phụ để luận đoán thêm về người ngủ ở phòng đó vậy.

B.PHỨC TRẠCH


I/. AN DU NIÊN VÀ SAO CHO NGĂN ĐẦU:

Do Phức Trạch có nhiều ngăn, nên việc phân bố Du niên & Sao cho các ngăn cũng phức tạp hơn. Việc an Du Niên & Sao của các ngăn sau, trong Phức Trạch, phụ thuộc rất lớn vào việc An Du Niên cho ngăn đầu, nếu sai ngăn đầu coi như các ngăn sau sai hết. Vì sao thế? Bởi trong Phức Trạch, các Sao tịnh tiến vào trong theo chiều tương sanh của Ngũ Hành của các Sao.
Ví dụ như: Ngăn đầu ta có Lục Sát Thủy đi, thì ngăn kế sẽ là Mộc (vì Thuỷ sinh Mộc), tương ứng với Sao Tham Lang- Du niên Sanh Khí; ngăn kế nữa sẽ là hành Hỏa (vì Mộc sinh Hoả), tương ứng với Sao Liêm Trinh- Du niên Ngũ Quỹ... Do đó, việc An Du Niên cho ngăn đầu thật chính xác rất quan trọng!!!
Để An Du niên cho ngăn đầu trong Phức Trạch, ta cần xác định Cửa Cái thuộc CHÍNH MÔN hay là THIÊN MÔN.
Cửa Cái CHÍNH MÔN là cửa ngay chính giửa nhà vậy, trường hợp nhà xưa có ba gian, có ba bộ cửa, đương nhiên phải xét cửa nào là cửa chính thường được sử dụng nhất rồi. Khi ấy, không tiện thì ta có thể sử dụng cửa bên, nếu nó tạo ra hiệu quả tốt (Việc này NCD sẽ có chứng minh bằng ví dụ trong phần sau).
Như vậy ta dễ dàng hiểu ra cửa nằm một bên nhà là cửa THIÊN MÔN rồi.
Với mỗi vị trí CHÍNH hay THIÊN thì cách phối hợp Sao cũng khác.
1/. CỬA CHÍNH MÔN :
Cửa này là cửa trùng với Hướng nhà. Với Cửa Chính Môn thì cách phối hợp là bình thường: Từ cung Cửa Chính Môn biến tới cung Sơn Chủ, ta được Du niên gì, ứng với Sao gì, thì đó là Du niên của Trạch, Du niên của Sơn Chủ, cũng là Du niên của ngăn đầu_ Sao tương ứng với nó cũng được An cho ngăn đầu.
Ví dụ: Nhà Tọa Càn, Hướng Tốn, có cửa Chính Môn, có 4 ngăn.
Trước tiên, ta thấy cửa Chính Môn thì trùng với Hướng, vậy đó là Cửa Tốn. Từ Cửa Tốn biến tới Sơn Chủ Càn (Sơn Chủ chính là Tọa, là mặt hậu của nhà), ta được Du niên Họa Hại & Sao ứng với nó là Sao Lộc Tồn thuộc Thổ. Ta có ngăn đầu là Lộc Tồn_ Họa Hại Thổ. Ở ngăn kế sẽ là Vũ Khúc_ Diên Niên Kim. Ngăn kế nữa là Văn Khúc_ Lục Sát Thủy. Và ngăn cuối là Tham Lang_ Sanh Khí Mộc.
Nhà đó sẽ được gọi là nhà HỌA HẠI TRẠCH.
2/. CỬA THIÊN MÔN:
Trước tiên ta hãy dùng La Bàn xác định cung của Cửa Thiên Môn này đã. Kế đến từ cung của Cửa Thiên Môn biến tới Hướng nhà, đó chính là Du niên của ngăn đầu vậy.
Muốn xác định Du niên của Trạch, Du niên của Sơn Chủ thì ta lấy từ cung của Cửa Thiên Môn biến tới cung Sơn Chủ, đó là Du niên của Sơn Chủ, và Du niên của Trạch vậy.
Thí dụ: Nhà Tọa Ly, Hướng Khảm, cửa bên trái thuộc cung Càn, nhà có 3 ngăn.
Trước tiên ta lấy từ cung Cửa biến tới Hướng: Càn với Khảm phối nhau cho ra Du niên Lục Sát Thủy, ứng với Sao Văn Khúc. Ta An Sao này và Du niên này vào ngăn đầu để tính tiếp các ngăn sau. Ngăn đầu ghi vào đó là Văn Khúc_ Lục Sát Thủy. Ngăn giửa ghi vào Tham Lang_ Sanh Khí Mộc. Ngăn cuối ghi vào Liêm Trinh_ Ngũ Quỹ Hỏa.
Kế đến ta tìm Du niên cho Trạch & Du niên cho Sơn Chủ. Từ cung của Cửa Thiên Môn biến tới cung của Sơn Chủ, ta có Càn phối với Ly là Tuyệt Mạng, đó là Du niên của Sơn Chủ lẫn Du niên của Trạch vậy. Ta gọi nhà đó là TUYỆT MẠNG TRẠCH.

II/. CÁCH PHÂN BỐ SAO Ở ĐỘNG TRẠCH (từ 2 đến 5 ngăn):

Cách mà NCD di chuyển Sao như trên là cách di chuyển Sao của loại Động Trạch này đó. Đọc đến đây ắt các anh chị, các bạn sẽ có thắc mắc: Sao thì có đến 8 Sao, trong đó có 2 sao Kim, 2 sao Thổ, 2 sao Mộc, vậy gặp ngăn phải phân Sao Mộc hay sao Kim thì dùng Sao nào?
Xin thưa rằng ở Động Trạch chỉ dùng 5 Sao làm chính, đó là: Tham Lang, Văn Khúc, Vũ Khúc, Liêm Trinh & Cự Môn. Trừ trường hợp các Du niên phối nhau ra các sao Lộc Tồn, Phá Quân & Phụ Bật thì mới an Sao đó vào ngăn đầu thôi. Ngoài ra, các trường hợp Du niên ngăn đầu không phải là Họa Hại, Tuyệt Mạng, Phục Vì thì chỉ dùng 5 Sao kia.

III/. CÁCH PHÂN BỐ SAO Ở BIẾN TRẠCH (từ 6 đến 10 ngăn):

Trong trường hợp An Sao cho Biến Trạch, thì mới dùng thêm bốn sao phụ ngũ hành kia. Tuy gọi là bốn sao nhưng thực tế chỉ có...3 rưởi thôi, vì Sao Phụ Bật chỉ có tác dụng phân nửa thôi, lực nó yếu hơn hẳn các sao khác.
Như vậy ngoại trừ Thuỷ và Hoả chỉ có một Sao, còn lại các nhóm ngũ hành kia đều có một đôi sao. Trong trường hợp gặp các nhóm ngũ hành có đôi sao thì dùng liên tiếp cả đôi sao cho 2 ngăn liền nhau.
Tuy nói vậy, nhưng không phải nhà BIẾN TRẠCH nào cũng dùng hết các đôi sao, còn tùy thuộc vào số ngăn của nó:
_ Biến Trạch có 6 ngăn: Chỉ dùng đôi sao đầu tiên mà nó gặp.
_ Biến Trạch có 7 ngăn: Chỉ dùng hai đôi sao đầu mà nó gặp.
_ Biến Trạch có 8-10 ngăn mới dùng đú cả ba đôi sao.
Đến đây lại nảy sinh vấn đề: Thế gặp đôi sao thì an sao nào trước? Đây là mấu chốt của vấn đề, nếu quý vị nào đọc đến đây mà nêu ra câu hỏi ấy liền thì chắc chắn vị đó rất ham mê tìm tòi về Phong Thuỷ vậy. Ngoại trừ trường hợp ngăn đầu & ngăn kế có đôi sao, vì khi đó đã có sao ở ngăn đầu tính theo Du niên biến ra. Các trường hợp ở sau thì sự an bố các đôi sao theo luật nhất định :
_ Gặp đôi sao thuộc Mộc thì PHỤ BẬT trước, THAM LANG sau.
_ Gặp đôi sao thuộc Kim thì VŨ KHÚC trước, PHÁ QUÂN sau.
_ Gặp đôi sao thuộc Thổ thì: LỘC TỒN trước, CỰ MÔN sau.

IV/. CÁCH PHÂN BỐ SAO CHO HÓA TRẠCH (từ 11 đến 15 ngăn):

Vẫn áp dụng như phần Biến Trạch, và cứ thế xoay cho đến ngăn chót.


NGĂN CHÁNH & SAO CHÚA
**********


Như ta thấy, mỗi ngăn có một sao trấn giữ, Du niên chỉ là cái để ta tìm ra Sao ở các ngăn thôi, thật ra, chính các Sao đó mới chi phối sự Cát Hung của các ngăn đó vậy.
Sau khi an Sao cho từng ngăn rồi, người ta mới tìm 1 Sao làm Sao Chúa. Vì sao phải cần 1 Sao Chúa? Do trong Phức trạch có nhiều ngăn, nên cần chọn một ngăn chánh có Sao tốt để phát huy hiệu lực vượt trội của sự tốt đẹp, hầu trấn áp các ngăn xấu hại có Hung Tinh, nhất là với các căn nhà có tên Ác hại_ tức các Hung Du niên Trạch.
Thường khi chọn Ngăn Chánh, người ta ít chọn các ngăn đầu lắm, vì nó xa Sơn Chủ. Trong Phong Thuỷ, khi không xét đến LONG 9tức Long Mạch), thì Sơn Chủ biểu tượng cho Trạch Chủ vậy, nên người ta luôn tìm cách củng cố nó, bồi bổ nó, hỗ trợ nó. Chính vì thế, khi chọn Ngăn Chánh người ta mới thường chọn ngăn gần với Sơn Chủ, hoặc trực ngộ Sơn Chủ. Một căn cao lớn hơn, rộng rãi hơn, sạch sẽ hơn các ngăn khác mới đáng gọi là Ngăn Chánh. Nói một cách dễ hiễu nhất, cứ căn cứ vào Thể Tích của Ngăn, thể tích ngăn nào lớn nhất thì đó là Ngăn Chánh vậy. Đây chính là một điều mà một số thầy Phong Thuỷ trong trường phái này lầm lẫn. Cứ nhìn thấy Diện Tích lớn hơn đã vội vàng cho đấy là Ngăn Chánh thì tai hại vô cùng!!
Ví dụ: Một ngăn ngang 3m, dài 4m, cao 6m (vì không vướng gác lửng bên trên, lại không có la-phông); một ngăn ngang 4m, dài 4m , cao 3m.
Nếu chỉ nhìn sơ theo diện tích tất phán đoán rằng ngăn sau lớn hơn ngăn trước. Ta thử làm phép tính nhân xem: 3m x 4m x 6m= 72 m3
4m x 4m x 3m= 48 m3.
Một trời một vực phải không quý vị? Nếu như Ngăn chọn lầm đó mà do một Hung Tinh trấn ở đó thì thử hỏi tai hại cỡ nào? Trong Phong Thuỷ, chỉ cần một tính toán sai lầm của người thầy, thì có thể tai họa lập tức giáng xuống đầu gia chủ liền tức thời. Do đó, nếu muốn chọn Ngăn Chánh với Sao tốt hỗ trợ cho nhà, thì xin hãy cẩn thận xét cả chiều cao của ngăn đó!!!
Ngăn Chánh thì Sao của nó được gọi là SAO CHÚA.
Cùng với Du Niên Trạch, Sao Chúa góp phần chi phối sự lành dữ, cát hung của những người sống ở nhà đó. Do vậy, phải chọn Sao Chúa là một Cát Tinh mới đem lại lợi ích cho những người sống ở nhà đó.
Và tốt hơn nữa, Cát Tinh đó phải hữu lực như: Đắc Vị, Đăng Điện hay tốt bậc nhất là NHẬP MIẾU.
_ Cát Tinh Đắc Vị là chỉ Sao có Ngũ Hành Tương Sanh với Ngũ Hành của cung.
_ Cát Tinh Đăng Điện là chỉ Sao có Ngũ Hành trùng với Ngũ Hành của cung.
Ví dụ như: hai cung Cấn- Đoài biến ra Vũ Khúc- Diên Niên Kim. Vậy thì so với cung Cấn thì Sao Vũ Khúc Đắc Vị, nhưng so với cung Đoài thì Sao Vũ Khúc là Đăng Điện.
_ NHẬP MIẾU là chỉ trường hợp Ngăn Chánh là ngăn cuối cùng, tức Sao Chúa trực ngộ Sơn Chủ, giáp với Sơn Chủ.
Khi một căn nhà đã có Du Niên Trạch là một Cát Du Niên, lại thêm Sao Chúa là một Cát Tinh hữu lực thì khác nào như gấm thêu hoa, như Rồng mây gặp hội, nhà càng hưng thịnh lâu bền.
Khi một căn nhà có Du Niên Trạch là một Hung Du Niên, ta càng cần chọn một Sao Chúa là Cát Tinh hữu lực, nhắm áp chế bớt Hung Tinh. Trường hợp này, các nhà Phong Thuỷ gọi là YỂM SÁT TRẠCH.
Khi gặp trường hợp này, thì tác dụng tốt của Sao Chúa sẽ bị giảm đi 1/3 đến 1/2 hiệu lực tốt đẹp vốn có của nó. Thời gian còn lại, hiệu lực của nó rất yếu, khó chống ngăn nếu có thêm Hung Tinh nào nữa.
TUYỆT ĐỐI KỴ lấy Sao Chúa là môt Hung Tinh, nếu Hung Tinh này Đắc Vị, Đăng Điện hay Nhập miếu nữa thì càng thập phần nguy khốn cho gia chủ. Ví như một kẻ hôn quân bạo chúa mà lên nắm quyền sinh sát vậy, tha hồ mà hành hung tác ác, gieo tai rắc họa.
Bất đắc dĩ lắm người ta mới dùng Cát Tinh Thất Vị (là chỉ Sao tương khắc với Cung) làm Sao Chúa. Vì một Cát Tinh Thất Vị có khác gì cá trên cạn, cọp xuống đồng bằng đâu, chẳng làm được gì.


CUNG VÀ SAO
*****


Ở đây, ta chỉ xét các Cung trọng (tức là các Cung: Cửa Cái, Bếp và Sơn Chủ hay Phòng Chủ), không bàn đến các Cung Khinh (tức là các Cung: Cửa ngõ, Cửa Bếp, Cửa Buồng). Trong ba Cung Trọng này lại chia ra làm hai: Cung bên ngoài và Cung bên trong.
_ Cung bên ngoài (ngoại) là Cửa Cái.
_ Cung bên trong (nội) là Bếp và Sơn Chủ hay Phòng Chủ
Điều đầu tiên mà NCD muốn nói đến là một điều... xưa như Trái Đất :

1/. CÔ ÂM BẤT SINH, ĐỘC DƯƠNG BẤT TRƯỞNG:
Vâng, điều này NCD luôn nhắc mãi. Đây là LÝ của Dịch, cũng là LÝ của Phong Thuỷ_ dù theo bất kỳ trường phái nào thì cũng không thể gạt bỏ ý này, xin hãy nhớ!!!
Vậy thì khi nào sẽ rơi vào trường hợp này? Ấy là khi hai Cung Thuần Âm hay Thuần Dương. Khi ấy, dù cho có giao phối nhau cho ra Cát Du Niên, thì sự tốt đẹp ấy cũng không được bền lâu. Cũng như hai vợ chồng vậy thôi, người này nóng (Dương ) thì người kia phải nguội (Âm) chứ, nếu không chắc tan hoang nhà cửa quá. Việc phân cung Âm, Dương này ta có thể chủ động được, nên khi phối Cung, ta không chỉ xét Du Niên tốt, mà nên xem cả việc nó có đú Âm Dương chưa? Nếu thiếu thì ta tìm cách bổ khuyết vào.
Ví dụ 1: Nhà có cửa Tốn, Sơn Chủ Khảm. Phối với nhau được Sanh Khí Trạch, lại đủ Âm Dương tất phát dài lâu vậy.
Ví dụ 2: Nhà có Cửa Cái Khảm, Sơn Chủ Chấn. Phối với nhau được Thiên Y Trạch, nhưng đây là hai Cung Thuần Dương không sanh hóa, ở lâu nhà này sẽ dẫn tới Tuyệt tự. Ta có thể dùng Bếp Ly Âm để trung hòa lại, tất phát bền lâu vậy.
Các Cung Bát Quái phân Âm Dương, NCD đã có nói rồi, nay xin nhắc lại:
_ Cung Dương: Càn vi Lão Ông, Khảm vi Trung Nam, Cấn vi Thiếu Nam, Chấn vi Trưởng Nam
_ Cung Âm : Tốn vi Trưởng Nữ, Ly vi Trung Nữ, Khôn vi Lão Mẫu, Đoài vi Thiếu Nữ.

2/. NGOẠI SINH NỘI_ NỘI SINH NGOẠI:
Ngoại sinh Nội, là ngoài sinh vào trong, như Cung Cửa Cái sinh Cung Bếp, Cung Cửa Cái sinh Cung Sơn Chủ (hay Phòng Chủ). Quan hệ này gọi là SINH NHẬP. Hiệu ứng tốt đẹp sẽ đến sớm và nhanh, sự hanh thông trong gia đình thuận lợi hơn và dễ dàng hơn.
Ví dụ: Cửa Tốn, Sơn Chủ Ly. Được Thiên Y Trạch, lại có Cửa Tốn Mộc ở ngoài sinh vào trong cho Sơn Chủ Ly Hỏa nên phát rất nhanh. Tuy hai Cung này Thuần Âm, nhưng ta có thể dùng Bếp Khảm, hay Bếp Chấn trung hòa thì vẫn phát lâu bền được.
Nội sinh Ngoại, là ở trong sinh ra ngoài, như Cung Sơn Chủ (hay Cung Phòng Chủ) sinh ra Cung Cửa Cái, Cung Bếp sinh ra Cung Cửa Cái. Quan hệ này gọi là SINH XUẤT. Hiệu ứng tốt đẹp sẽ đến trễ và chậm vì nhịp độ thưa thớt, sự hanh thông trong gia đình do cần lao đưa đến hơn là duyên may.

3/. NỘI KHẮC NGOẠI_ NGOẠI KHẮC NỘI:
Nội khắc Ngoại là ở trong khắc ở ngoài. Là Cung Sơn Chủ (Phòng Chủ) khắc Cung Cửa Cái, Cung Bếp khắc Cung Cửa Cái. Quan hệ này gọi là KHẮC XUẤT. Trong trường hợp này, dù người trong nhà chống chế được ngoại cảnh, nhưng cuối cùng vẫn là sự hao tổn tinh thần và vật chất. Bán Hung.
Ngoại khắc Nội là ở ngoài khắc vào trong. Là Cung Cửa Cái khắc Cung Sơn Chủ (Phòng Chủ), Cung Cửa Cái khắc Cung Bếp. Quan hệ này gọi là KHẮC NHẬP. Rơi vào trường hợp này, nạn tai sẽ đến nhanh và bất ngờ, không biết đâu mà lường, và khó ứng phó, xoay trở, họa này do bên ngoài đưa đến.
_ Cung bị khắc là Càn: Người đàn ông lớn tuổi trong nhà, cha, ông bệnh đau, họa hoạn, vô năng, bất lực vì không thể thi thố được tài trí của mình.
_ Cung bị khắc là Đoài: Khốn khổ cho con gái út, cháu gái nhỏ.
_ Cung bị khắc là Khôn: Tổn hại cho Lão mẫu, người bà- mẹ- vợ trong nhà.
_ Cung bị khắc là Ly: Tổn hại cho con gái, cháu gái giửa, trung nữ.
_ Cung bị khắc là Tốn: Tổn hại cho con gái, cháu gái lớn, tức hạng nữ nhân trung tuổi trong nhà.
_ Cung bị khắc là Chấn: Tổn hại cho hàng nam nhân trọng tuổi như con trai trưởng, cháu trai trưởng trong nhà. Đặc biệt nếu chỗ đó là Từ Đường thì bất kể Trưởng Tử, Trưởng Tôn nội, ngoại đều bị khắc cả. Xin cẩn thận!!!
_ Cung bị khắc là Cấn: Tổn hại cho con trai nhỏ, con trai út, cháu trai nhỏ, thiếu nam (ở đây cũng có thể là... con trai dòng thứ).
_ Cung bị khắc là Khảm: Tổn hại cho con trai giửa, cháu trai giửa, trung nam trong nhà.

4/.NGOẠI CHIẾN_ NỘI CHIẾN:
Sao được coi là yếu tố bên ngoài, vì nó còn phài do các Cung hỗ biến với nhau mà ra, như là các yếu tố ngoại lai vậy. Các Cung được xem là các yếu tố bên trong, bởi chúng là yếu tố có sẵn nằm trên địa bàn, như cái gốc rễ bên trong vậy.
_ Sao khắc Cung: Là ngoài khắc vào trong, được gọi là Ngoại chiến, ví như kẻ gây chiến từ bên ngoài đến vậy.
_ Cung khắc Sao: Là trong khắc ra ngoài, được gọi là Nội chiến, như người trong nhà ra ngoài sinh sự vậy.
Theo Dương Trạch Tam Yếu thì cho rằng: Mỗi trường hợp Nội Chiến sẽ giảm 50% tốt. Mỗi trường hợp Ngoại Chiến sẽ giảm 30% tốt.
Theo NCD thì nói như vậy nghe có vẻ không hợp lý! Vì sao? Ta thử nghĩ xem nhé:
Nội Chiến là Cung khắc Tinh, là trong khắc ra ngoài, ví như người trong thắng thế, tức Cung còn khả năng chế ngự Hung Tinh, khiến Hung Tinh cũng phải kiêng dè không dám hành hung nữa. Vậy thì phần xấu phải giảm đi nhiều hơn chứ, sao lại giảm đến 50% tốt?!
Còn Ngoại Chiến là Sao khắc Cung, là ngoài khắc vào trong, ví như người trong nhà yếu thế. Khi ấy Hung Tinh thắng thế, ví như tiểu nhân đắc chí, tha hồ tác yêu tác quái, hoành hành bá đạo. Thế thì phần Hung Hại của chúng càng nhiều hơn, sao chỉ giảm có 30% tốt?!

DƯƠNG TRẠCH TAM YẾU.

Sau khi đã lược sơ qua về một số thiết kế cho nội thất như cửa cái, bếp, phòng ngủ... và một số yếu tố ngoại vi, nay NCD xin giới thiệu với các anh chị, các bạn một trường phái trong Phong Thuỷ, đó là trường phái DƯƠNG TRẠCH TAM YẾU. Dương Trạch thì chúng ta đã biết là để chỉ nhà ở của người sống chúng ta, còn Tam Yếu là gì? Theo phái này luận, thì trong một ngôi Dương Cơ có ba điểm chính yếu, đó là: CỬA CÁI- BẾP (ở đây ý nói là Hỏa Môn tức Hướng miệng Bếp)- SƠN CHỦ hay PHÒNG CHỦ. Do đó mới gọi là Tam Yếu, tức chỉ ba điểm trọng yếu này.
Cũng như trường phái Bát Trạch Minh Cảnh, trường phái này cũng chia 8 cung Bát Quái ra làm hai nhóm: Đông Tứ Trạch và Tây Tứ Trạch.
_ Đông Tứ Trạch gồm các cung Khảm, Ly, Chấn, Tốn.
_ Tây Tứ Trạch gồm các cung Càn, Đoài, Cấn, Khôn.
Người có Quái số ở nhóm Đông Tứ Trạch thì ba điểm chính yếu nên an trí trong 4 cung thuộc Đông Tứ Trạch.
Ví dụ như: Người có Quái số là 9, là cung Ly, thuộc nhóm Đông Tứ Trạch; vậy thì 3 điểm chính yếu trong nhà cũng nên an vị ở các cung Khảm, Ly, Chấn, Tốn.
Người có Quái số ở nhóm Tây Tứ Trạch thì ba điểm chính yếu nên an trí trong 4 cung thuộc Tây Tứ Trạch.
Ví dụ như: Người có Quái số là 7, là cung Đoài, thuộc nhóm Tây Tứ Trạch; vậy thì ba điểm chính yếu trong nhà cũng nên an vị ở các cung thuộc Tây Tứ Trạch là Càn, Đoài, Cấn, Khôn.

1/. PHÂN LOẠI TRẠCH:

Theo trường phái Phong Thuỷ này, nhà ở được chia làm hai loại: Đơn Trạch và Phức Trạch. Sự phân chia này do việc nhà có phân ngăn hay không.
Nhà từ trước ra sau không phân chia ra ngăn nào cả thuộc về Đơn Trạch, tức là nhà đơn giản. Vậy thì ta có thể hiểu Phức Trạch nói nôm na là nhà bố trí phức tạp hơn, hay là nhà có phân ngăn. Nhà không có ngăn nào cả được gọi là TỊNH TRẠCH.
TỊNH TRẠCH thì lấy ba điểm chính yếu là: CỬA CÁI- BẾP- PHÒNG CHỦ (tức là căn phòng ngủ của gia chủ, căn phòng nằm ở một góc nào đó trong nhà).
Phức Trạch lại chia ra làm ba loại, mỗi loại có sự sắp xếp các sao trong các ngăn khác nhau. Sự phân loại này dựa trên số ngăn mà nhà đó có:
_ Từ 2 đến 5 ngăn là Động Trạch.
_ Từ 6 đến 10 ngăn là Biến Trạch.
_ Từ 11 đến 15 ngăn là Hóa Trạch.
Các loại nhà thuộc dạng Phức Trạch lấy ba điểm chính yếu là: CỬA CÁI- BẾP- và SƠN CHỦ (với SƠN CHỦ là mặt hậu của nhà, đối nghịch với hướng nhà vậy).

2/. CÁCH XÁC ĐỊNH CUNG CỦA 3 ĐIỂM CHÍNH YẾU:

_ CỬA CÁI: Từ mặt tiền nhà kéo một đường thẳng vuông góc với mặt tiền, lấy một đoạn bằng nửa chiều ngang mặt tiền. Đó chính là điểm đặt La bàn để xác định vị trí cửa cái. Dùng La bàn nhìn về hướng Cửa Cái xem đó là cung gì, đánh dấu vào sơ đồ nhà tên cung Cửa Cái.
_ BẾP: Từ trung tâm phòng Bếp (nếu là Phức Trạch), hay trung tâm nhà (nếu là Đơn Trạch), đặt La bàn nhìn về hướng Bếp, xác định xem Hỏa Môn xoay hướng gì, thì đó là cung của Bếp vậy. Cũng trong phái này có hai ý kiến khác nhau: Phái thì lấy ví trí đặt Bếp như bên Bát Trạch Minh Cảnh, là đặt ở vị trí xấu, ngó về hướng tốt; phái thì lấy vị trí đặt Bếp là tốt, ngó về hướng tốt luôn. Và hai phái này cứ tranh cãi suốt, luôn cho mình là đúng, đối phương là sai. Riêng NCD thì chủ trương theo phái đầu, tức đặt Bếp ở phương Hung trấn áp cái xấu, nhưng Miệng Bếp phải xoay hướng tốt. Tuy vậy, NCD tôi không chê cách nào cả, chỉ vì bản thân NCD thử nghiệm cách đầu trúng nên theo luôn, chưa thử qua cách sau, nếu quý vị nào muốn thì hãy thử xem.
_ PHÒNG CHỦ: Phòng Chủ không nhất thiết Trạch Chủ phải ngủ trong đó. Một căn Tịnh Trạch có thể có một phòng, có thể có nhiều phòng nhưng không phân ngăn thôi. Nếu có nhiều phòng thì phòng nào CAO-RỘNG- LỚN nhất sẽ được xem là phòng chủ.
Nếu chỉ có một phòng thì dù phòng đó nhỏ hẹp vẫn là Phòng Chủ. Một căn buồng chỉ che bằng màn, hay kê bằng tủ không được xem là Phòng Chủ; phải có tường vách hẳn hoi mới tính. Từ trung tâm nhà đặt La bàn nhìn về hướng Phòng Chủ xem đó là cung gì, thì đó là cung của Phòng Chủ vậy.
_ SƠN CHỦ: Từ vách mặt hậu, cũng làm như đối với mặt tiền, tức là kéo một đường thẳng vuông góc với mặt hậu, lấy một đoạn bằng nửa chiều ngang mặt hậu, đó là điểm đặt La bàn. Từ điểm đó, đặt La bàn nhìn về mặt hậu ấy xem là cung gì thì đó là cung của SƠN CHỦ vậy, phải nhìn theo đường vuông góc ấy mới chính xác nhé!

3/. AN DU NIÊN CHO TRẠCH:

Theo trường phái Phong Thuỷ này, một ngôi nhà có một Du niên ảnh hưởng đến sự Hưng Suy của nhà đó, tùy theo đó là Du niên tốt hay xấu. Để an Du niên cho nhà, thì TỊNH TRẠCH và PHỨC TRẠCH hơi khác một tý.
_ TỊNH TRẠCH: Từ cung của CỬA CÁI biến tới cung của PHÒNG CHỦ, được Du niên gì thì đó vừa là Du niên của PHÒNG CHỦ, vừa là Du niên của Trạch vậy.
Thí dụ: Cửa cái là ở cung Càn, còn Phòng Chủ là ở cung Cấn, hai cung biến với nhau, Càn phối Cấn là Thiên Y, vậy Du niên của Phòng Chủ là Thiên Y, mà Du niên của Trạch cũng là Thiên Y. Ta gọi đó là nhà Thiên Y Trạch.
_ PHỨC TRẠCH: Từ cung Cửa Cái biến tới cung của Sơn Chủ, được Du niên gì thì đó là Du niên của Trạch, cũng là Du niên của Sơn Chủ vậy.
Thí dụ: Cửa cái là ở cung Khảm, nhưng Sơn chủ là ở cung Khôn, hai cung Khôn, Khảm phối với nhau ra Du niên Tuyệt Mạng, vậy Du niên của Trạch là Tuyệt Mạng, và Du niên của Sơn Chủ cũng là Tuyệt Mạng vậy. Ta gọi đó là nhà Tuyệt Mạng Trạch.
Do có sự phân chia thành hai nhóm Đông Tây, nên khi phối hợp với nhau tất có tốt, có xấu. Các cung cùng nhóm phối với nhau sẽ cho ra các Du niên tốt, các cung khác nhóm khi phối với nhau sẽ cho ra các Du niên xấu vậy. Các anh chị, các bạn có thể xem lại các bài đầu trên mục Phong Thuỷ này, để thấy cách phối hợp giửa các cung Bát Quái với nhau.
Mỗi một Du niên tốt xấu đều có một Sao đi kèm với nó, và ngôi sao đó thể hiện rõ tính tốt xấu của Du niên đó. Nghĩa là: Du niên tốt thì đi kèm với Cát Tinh, Du niên xấu thì đi kèm với Hung Tinh. Dưới đây, NCD xin kê ra tên và sự tương ứng của các Du niên với các sao để các anh chị, các bạn tiện xem nhé!
_ Sanh Khí ứng với sao THAM LANG, thuộc hành MỘC.
_ Thiên Y ứng với sao CỰ MÔN, thuộc hành THỔ.
_ Diên Niên ứng với sao VŨ KHÚC, thuộc hành KIM.
_ Phục Vì ứng với sao PHỤ BẬT, thuộc hành MỘC.
_ Tuyệt Mạng ứng với sao PHÁ QUÂN, thuộc hành KIM.
_ Ngũ Quỹ ứng với sao LIÊM TRINH, thuộc hành HỎA.
_ Lục Sát ứng với sao VĂN KHÚC, thuộc hành THỦY.
_ Họa Hại ứng với sao LỘC TỒN, thuộc hành THỔ.

GƯƠNG SOI

Trong Phong Thuỷ, Gương soi được coi như là Aspirin vậy. Nó được xem là một trong những công cụ hóa giải rất tốt trong Phong Thuỷ. Ngay từ ngàn xưa, khi con người chưa có thuật tráng thủy cho kiếng như hiện nay, người ta dùng các gương đồng đánh bóng sáng lên. Ngày nay, khi các anh chị, các bạn xem phim Trung Quốc quay về các triều đại xưa, nhà nào cũng có 1 tấm gương đồng tròn xoay hướng ra ngoài cả, xin để ý thử xem.
Khi treo bên ngoài nhà, Gương có thể làm lệch hướng đe dọa khí (một con đường lộ đâm vào, một tòa nhà sát bên quá cao, một trại hòm, những mũi nhọn hàng rào nhà hàng xóm...). Trong các cấu trúc hiện đại, nhiều nhà cao tầng, những trung tâm thương mại hay dùng các bức tường Gương trước mặt, nó ngoài việc cho Khí đi vào còn có tác dụng ngăn ngừa những tác nhân xấu. Ta có thể dùng Gương soi thường, hay Gương lồi (làm chệch hướng sát khí đi nơi khác, hay làm lộn ngược hình nhà cao tầng áp sát..); và trong một số trường hợp Hung Sát nặng thì người ta dùng Gương Bát Quái (là dạng hình Bát Quái có gương ở giửa, có lúc gương phẳng, có lúc gương lõm, có lúc gương lồi). Đối với các đường chạy xe vào nhà (trường hợp này đa số không có ở Việt Nam), nếu là con đường dốc xuống, thì Gương lồi sẽ được áp dụng chung với một vài dụng cụ hóa sát khác để hóa giải).
Nhưng thông dụng nhất có lẽ là các trường hợp dùng Gương trong nội thất. Gương trong nội thất thì "Gương càng lớn càng tốt". Gương không được thấp hơn đầu người, cũng không nên để cao quá. Nếu Gương quá thấp, chúng sẽ tạo ra bệnh đau đầu, và làm giảm dòng khí của những người sống trong nhà. Nếu treo quá cao, chúng sẽ làm cho những người trong nhà càm thấy khó chịu.
Gương treo nội thất thường dùng cho các trường hợp: Làm đầy một góc khuyết, làm mất đi một góc lồi (như cột nhà lồi ra chẳng hạn), làm rộng một khu vực chật hẹp (chiều sâu căn phòng, một hành lang hẹp...), hóa giải cầu thang tối và hẹp, thu hút những hình ảnh đẹp đẽ từ bên ngoài vào (như một vườn hoa, một dòng sông uốn lượn hữu tình...), giúp người ở trong phòng ngủ hay nhà bếp phát hiện có người vào, hóa giải trường hợp nhà thông suốt từ trước ra sau, làm cân bằng một trần nhà cao thấp chênh lệch nhiều, tạo cảm giác tăng "nhân khẩu" (tăng bếp là hình ảnh tăng người vậy)- "lợi nhuận" (khi đếm tiền một sẽ thành hai)- "khách hàng" (một người khách có thể thành hai, ba người tùy theo số kiếng), tạo hình ảnh một cửa sổ giả ở những nơi cần trổ cửa nhưng không thể mở được, tăng cường tính năng của các câu chú- lời chúc tốt đẹp.....
Nói chung, tùy trường hợp mà sử dụng. Tuy nhiên, có một số nguyên tắc không thể phạm vào như:
_ ĐẠI KỴ treo gương soi trong phòng ngủ (nhất là phòng ngủ vợ chồng vì nó tạo cảm giác có người thứ ba, và trước sau gì cũng xày ra). Nếu vì tình trạng bất khả kháng, chẳng hạn do kiếng ốp vào cửa tủ quần áo, thì đừng xoay mặt kiếng rọi vào: đầu giường, chân giường hay kể cả ngang tầm giường. Theo khoa học thì khi ta ngủ, từ trường trong người chúng ta lúc đó là yếu nhất. Gương soi ngoài tác dụng phản xạ còn có tác dụng hút, nó sẽ làm cho dòng khí trong người ta càng yếu thêm, kết quả là sang ngày hôm sau ta sẽ thấy mệt mõi hơn.
_ Ngoài việc kích thước cao thấp như đã nói ở trên kia, khi cần hóa giải về cạnh khuyết của phòng, nếu treo gương không nên treo gương ghép, mà nên dùng gương liền 1 miếng.
_ Các gương cho hình ảnh méo mó không trung thực; các gương bị sứt mẻ, nứt, vỡ; gương mờ nên bỏ đi
_ Nếu treo gương nơi có người đi qua đi lại thường, nên để ý độ lớn của kiếng, đừng để "mất đầu", "mất chân" người, khiến người trong nhà hay bị nhức đầu, bị vấp té.
_ Không nên treo hai gương đối nhau, nó sẽ làm cho ta bối rối như mất định hướng vậy. Nhất là nhà vắng vẻ càng không nên treo hai gương đối nhau, nó sẽ khiến người trong nhà cảm thấy bất an, lúc nào cũng như có bóng người trong gương vậy.
_ TUYỆT ĐỐI TRÁNH treo gương trong phòng khách mà nhìn ra đường lớn bên ngoài, càng hung hại hơn khi đường càng đông xe qua lại (nhất là xa lộ) + gương càng lớn. Nó khiến người trong nhà luôn cảm thấy tâm trạng hoang mang, tim mạch cũng có vấn đề. Vì sao thế? Khi xe chạy trên đường, hình ảnh dòng xe đó bị hút vào gương, làm cho người trong nhà có cảm giác như mình đang ở ngoài đường lộ vậy. Các anh chị, các bạn có đủ can đảm ra ngồi giửa lộ như vậy không chứ NCD thì không dám rồi đó. Vừa điếc tai vì còi xe vừa lo ngay ngáy sợ xe tông nữa, kinh lắm!
_ Và diều cuối cùng cho gương tráng thủy là không nên lạm dụng nó. Thuốc mà dùng quá liều thì nguy đấy! Không tin bạn cứ thử vốc một nắm thuốc mà uống xem, cho dù là thuốc bổ cũng phải... bổ ngửa đấy!

Với gương Bát Quái, nó cũng là một dạng gương soi nhưng có thêm biểu tượng Bát Quái nên uy lực mạnh hơn, và cách dùng cũng khác. Gương Bát Quái dùng để treo cho trường hợp Hoá Giải bao giờ cũng là Tiên Thiên Bát Quái. Gương Bát Quái Hậu Thiên dùng để xoay chuyển hướng nhà. Xin hãy nhớ kỹ điều này! Nếu quý vị nào thấy bày bán các loại gương Hậu Thiên Bát Quái thì xin đừng thỉnh về để Hoá Giải, mà NCD nghĩ cũng không chỗ nào dại dột sản xuất vậy đâu (ai mà thỉnh? làm để ngắm à?!). Thường thì các gương Bát Quái bày bán đã có làm khoen treo sẵn, giúp bạn xác định hướng treo trên dưới. Nhưng để đề phòng tình trạng sai lệch, NCD xin chỉ rõ ra vậy: Các anh chị, các bạn cứ xem cạnh nào có 3 vạch liền, đó chính là Quẻ CÀN, là hướng lên trên, Càn vi Thiên mà! Nếu không nhớ 3 vạch liền, xin hãy nhớ câu "CÀN tam liên" (Càn là 3 vạch liền). Cái này cũng do hàm ý trên ứng với Trời, dưới hợp với Đất vậy (bởi theo Tiên Thiên Bát Quái thì trên là quẻ Càn, đối diện nó bên dưới là quẻ Khôn vậy. Thời gian vừa qua, NCD đi xem gặp rất nhiều nhà treo gương Bát Quái chẳng ra Tiên Thiên, mà cũng chẳng phải Hậu Thiên. NCD thấy kinh quá, không biết người thời đại mới này có ai mà thông minh quá, "tối chế" (chứ không phải sáng chế nữa) ra một gương Bát.... Quái Chiêu để bày bán. Do vậy, NCD xin chỉ rõ luôn để các anh chị, các bạn nào cần thỉnh gương về treo biết cách mà chọn:
_ Thứ tự từ trên cùng, theo chiều kim đồng hồ của gương Bát Quái Tiên Thiên: Càn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn, Chấn, Ly, Đoài.
_ Thứ tự từ trên cùng, theo chiều kim đồng hồ của gương Bát Quái Hậu Thiên: Ly, Khôn, Đoài, Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn.

Muốn gương Bát Quái có hiệu lưc thì sau khi thỉnh về (đừng dùng chữ mua, vì theo người xưa cho rằng Bát Quái tượng trưng cho năng lượng thiêng liêng, không thể bảo mua, vậy là bất kính với thần thánh_ hàm ý như mua thần bán thánh vậy), hãy đem tới các Chùa có các vị sư đức độ, hay đến các nơi có các thầy... Lỗ Ban, để khai mở Mắt Thần cho Bát Quái_ Đây là một hình thức phù chú, dùng chữ "ÁN LAM" trong kinh nhà Phật thôi, nhưng không thể thiếu.
Khi đã mở Mắt Thần thì gương Bát Quái mới phát huy hết tác dụng của nó, chứ không thì nó chỉ là một mảnh gương nhỏ xíu với... vài vạch sơn kẻ bên ngoài thôi, có tác dụng gì đâu?!
Khi treo gương Bát Quái nên thận trọng, không thể lạm dụng, bạ đâu cũng treo là không được. Tuy nói uy lực mạnh, nhưng có nhiều trường hợp nó lại không có tác dụng. Nếu không thì môn Phong Thuỷ đâu có gì đáng lo, cứ gặp hung sát thì treo nó là xong, nếu quý vị nào có ý nghĩ sai lầm đó xin hãy cẩn thận! Gương Bát Quái có thể nói là "con dao 2 lưỡi" trong Phong Thuỷ đấy, "chơi dao" không khéo, không đúng thì "có ngày đứt tay" nhé! Muốn treo, bạn tốt nhất nên nhờ một thầy địa lý nào gần đấy đến xem, hoặc tư vấn ai đó xem có xài được không, xin đừng tự ý thỉnh về dùng!
Với gương Bát Quái, ngoại trừ gương Bát Quái lõm, tất cả các gương Bát Quái khác có một điều ĐẠI KỴ là KHÔNG ĐƯỢC TREO TRONG NHÀ!!!

HOÀNG TUYỀN

Nói đến HOÀNG TUYỀN là nói đến một phương vị gần như bất khả xâm phạm trong Phong Thuỷ vậy. Bởi các Hung Phương như Thái Tuế, Ngũ Hoàng Sát, Tam Sát thì chỉ theo năm mà di chuyển đi, còn HOÀNG TUYỀN là phương vị cố định. Khi nhà, mộ mà xác định hướng nào đó là đã có một vài phương hướng không thể phạm. Chữ "phạm" ở đây ý nói ở nhưỡng nơi ấy có thể kiêng kỵ: phóng thủy (thãi nước ra), đường đi, nước chầu lại, lạch nước...vv... thậm chí ngay cả trổ cửa, chọn ngày giờ khởi công cũng phải tránh nó nữa đấy!.
Trước tiên, NCD tôi xin giới thiệu với các anh chị, các bạn hai loại HOÀNG TUYỀN thường được nói đến nhiều nhất trong khoa Phong Thuỷ. Đó là: TỨ LỘ HOÀNG TUYỀN và BÁT SÁT HOÀNG TUYỀN.

TỨ LỘ HOÀNG TUYỀN
Canh, Đinh KHÔN thượng thị HOÀNG TUYỀN
Ất, Bính tu phòng TỐN thủy tiên
Giáp, Quý hướng trung ưu kiến CẤN
Tân, Nhâm thủy lộ phạ đương KIỀN.

Tức là làm nhà lập hướng CANH- ĐINH nên cẩn thận với nước phương KHÔN.
CANH hướng mà thấy ở phương KHÔN có nước thì nên chảy đến, chảy đi là phạm HOÀNG TUYỀN.
ĐINH hướng mà làm nhà thì nước phương KHÔN nên chảy đi, chảy đến là phạm HOÀNG TUYỀN.


ẤT hướng thì phương TỐN nước nên chảy đi, chảy lại là phạm HOÀNG TUYỀN.
BÍNH hướng thì nước phương TỐN nên chảy chầu lại, chảy đi là phạm HOÀNG TUYỀN.


GIÁP hướng thì nước phương CẤN nên chảy lại , nếu chảy đi là phạm HOÀNG TUYỀN.
QUÝ hướng thì nước phương CẤN nên chảy đi, nếu chảy lại là phạm HOÀNG TUYỀN.


TÂN hướng thì nước ở KIỀN ( CÀN ) nên chảy đi , nếu chảy đến là phạm HOÀNG TUYỀN.
NHÂM hướng thì nước ở KIỀN nên chảy đến , chảy đi là phạm HOÀNG TUYỀN.


BÁT SÁT HOÀNG TUYỀN
Khảm Long, Khôn Thố, Chấn sơn Hầu.
Tốn Kê, Kiền Mã, Đoài Xà đầu.
Cấn Hổ, Ly Trư vi SÁT diệu.
Phạm chi MỘ-TRẠCH nhất tề hưu.

Nhà Toạ (mặt sau nhà) Khảm thì ở phương THÌN (Long là Rồng, là cung Thìn) không nên trổ Cửa, đào Giếng, kỵ thấy lạch nước.
Nhà Toạ Khôn thì ở phương MẸO là kỵ.
Nhà Toạ Chấn thì ở phương THÂN là kỵ.
Nhà Toạ Tốn thì ở phương DẬU là kỵ.
Nhà Toạ Kiền thì ở phương NGỌ là kỵ.
Nhà Toạ Đoài thì ở phương TỊ là kỵ.
Nhà Toạ Cấn thì ở phương DẦN là kỵ.
Nhà Toạ Ly thì ở phương HỢI là kỵ.

Và ngược lại cũng vậy. Tức là nhà tọa THÌN thì kỵ phương KHẢM vậy......
Ngoài ra, khi chon ngày khởi công, cũng phải TUYỆT ĐỐI TRÁNH chọn nhằm ngày phạm phải BÁT SÁT HOÀNG TUYỀN này. Đây là một yếu quyết trong nghề, nay NCD xin hé tý bí mật cho các anh chị, các bạn biết, hy vọng các anh chị, các bạn không phạm phải ĐẠI HUNG SÁT này khi làm nhà. Nhiều người không biết, khi làm nhà chỉ đến các thầy xem ngày để lựa ngày khởi công, ngày đổ mái...vv...mà không biết rằng ngày khởi công phải do một thầy địa lý chuyên nghiệp mới chọn chính xác được. Vì các thầy xem ngày chỉ ngồi tại nhà, giở sách ra xem ngày theo sách vỡ, không đến tận nơi xem hướng thì rất dễ chọn lầm những ngày Hung Kỵ so với HƯỚNG và TỌA SƠN. Không chỉ có Bát Sát Hoàng Tuyền, mà còn nhiều Hung Sát khác, Hung Tinh khác liên quan tới Sơn, Hướng và ngày giờ. Nay NCD xin chỉ ra ngày kỵ của Bát Sát Hoàng Tuyền với các Sơn tương ứng của nó:
_ CÀN sơn : kỵ ngày Bính ngọ, Nhâm ngọ.
_ KHẢM sơn : ........... Mậu Thìn, Mậu Tuất.
_ CẤN sơn : ........... Giáp Dần, Bính Dần.
_ CHẤN-TỐN : ........... Canh Thân, Tân Dậu.
_ LY : ........... Quý Hợi, Kỷ Hợi.
_ KHÔN : ........... Ất mẹo.
_ ĐOÀI : ........... Đinh Tị.

Ngoài ra, trong vấn đề về đường hướng nước của thuật Phong Thuỷ còn một vài loại Hoàng Tuyền khác như:

BÁT DIỆU SÁT THỦY
Giáp phạ lưu Dần, Ất phạ Thìn
Bính- Ngọ, Đinh- Mùi yếu thương nhân
Canh- Thân, Tân- Tuất tu dương tị
Nhâm- Hợi, Quý- Sửu thị hung thần.

BẠCH HỔ HOÀNG TUYỀN
Kiền, Giáp, Khảm, Quý, Thân, Thìn sơn
Bạch Hổ chuyển tại Đinh-Mùi gian
Cánh hữu Ly, Nhâm, Dần kiêm Tuất
Hợi sơn lưu thủy chủ ưu phiền.

Chấn, Canh, Hợi, Mùi tứ sơn kỳ
thủy nhược lưu Thân khước bất nghi.
Cánh hữu Đoài, Đinh, Tị kiêm Sửu
phạm trước Ất- Thìn Bạch Hổ khi.
Khôn, Ất nhị cung Sửu mạc phạm
thủy lai tất nam định vô nghì.
Cấn, Bính sầu phùng Ly thượng, hạ.
Tốn, Tân ngộ Khảm họa nan di.
Thử thị Hoàng Tuyền chuyên Hướng luận
Khai môn- Phóng thủy ắt sầu bi.

GIẾNG NƯỚC

Nói đến giếng nước là ta nói đến một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống hàng ngày của mọi người. Ở thành thị thì còn có nước fountain, nhưng ở một số vùng quê Việt Nam hiện nay, vẫn còn nhiều vùng xài giếng, lấy đó làm nguồn nước sinh hoạt, ăn uống, tắm giặt..vv... Do đó, nói đến Giếng nước là ta phải bàn đến sự tinh khiết, sạch sẽ làm đầu. Bởi không thể nào lấy một nguồn nước nhiễm bẩn, một nguồn nước ô nhiễm, ô uế để nấu ăn được.
Do vậy, điều đầu tiên mà NCD muốn nói đó là: Giếng phải đặt ở phương Sinh Vượng với Mạng gia chủ. Cũng như với các phần trước, dựa theo Quái số của gia chủ để tìm cung thích hợp để đặt Giếng. Ngoài ra, khoa Phong Thuỷ xưa cũng đưa ra một số phương hướng nên và không nên đặt Giếng, NCD xin đưa ra để các anh chị, các bạn tham khảo xem:

1/.Ở các phương Bát Quái: Giếng ở các phương:
_ Càn: Bị đầu nhọt lỡ, chân tê liệt, thắt cổ tự vận, bị tai nạn gãy nát đùi.
_ Khảm: Bị trộm cướp, nhiều bệnh tật.
_ Cấn: Vượng tài nhưng không con.
_ Tốn: Tài lộc đại phát.
_ Ly: Mắt yếu.
_ Khôn: Giàu có, thịnh vượng.
_ Đoài: Đại dâm, ứng vào thiếu nữ; không con.

2/.Ở các phương Địa Chi: Giếng ở các phương:
_ Tý: Sẽ sinh ra người điên cuồng.
_ Sửu: Anh em không hòa thuận, nhà có người bị câm điếc, đui mù.
_ Dần: Bị hỏa tai, bệnh hoạn.
_ Mẹo: Bị tai bay vạ gió, bệnh tật.
_ Thìn: Mọi việc đều bất lợi, gia trưởng bị nạn trước, rồi đến người nhà, có người nhảy sông tự trầm.
_ Tị: Đạt công danh nho nhỏ.
_ Ngọ: Mọi việc đều bất lợi.
_ Mùi: Có công danh, giàu sang.
_ Thân: Bị trộm cướp, khó sinh đẻ.
_ Dậu: Trước xấu sau tốt.
_ Tuất: Con nhỏ chết, con lớn bệnh, mọi việc đều bất lợi.
_ Hợi: Con cháu thông minh, thịnh vượng.

3/.Ở các phương Thiên Can: Giếng ở các phương:
_ Giáp: Sẽ được nhiều của, nhưng nhiều bệnh tật.
_ Ất: Trai, gái đều xinh đẹp.
_ Bính: Được làm quan cao.
_ Đinh: Vượng về lộc và con trai.
_ Canh: Sẽ giàu có.
_ Tân: Nam nữ trong nhà đều trong sạch, sống có đạo đức.
_ Nhâm: Phát tài, vượng nhân đinh nhưng thường có quái tật.
_ Quý: Giàu có, vàng bạc đầy nhà.

Các phương Giáp, Bính, Canh, Nhâm có Giếng, nếu gần suối sâu thì nam nữ trong nhà đều dâm loạn.

_ Không nên để nước ô uế tràn vào Giếng.
_ Làm nhà trên Giếng cũ thì bị thưa kiện.
_ Giếng sâu quá thì không tụ tài, cô quả, dâm dật.
rộng quá thì không vượng đinh, của cải lại mất dần.
dài mà sâu thì thoái tài, hại nhân khẩu.
sâu mà làm chỗ đất cao thì đàn bà trong nhà làm loạn.
_ Giếng làm sát bên phòng ngủ mà có thai thì sẽ trụy thai.
_ Trồng hoa bên Giếng thì sẽ cờ bạc, xa hoa.
_ Đắp tường quanh Giếng thì sẽ...yêu con ở (?!).
Trên đây chỉ là những yếu tố đặt Giếng theo quan điểm xưa, có rất nhiều đã không còn hợp thời nữa, nhưng NCD tôi vẫn nêu ra đây để các anh chị, các bạn cùng tham khảo. Vì hành Thuỷ là một hành khó chịu và nguy hiểm nhất trong Ngũ Hành, nên hãy hết sức cẩn thận. Nếu ai đã từng nghiên cứu qua Huyền Không tất sẽ thấy rõ điều này.
Ngoài ra, tất cả các nơi có nước ở Dương Trạch lẫn Âm Trạch đều phải tránh phạm phải HOÀNG TUYỀN. Đây là một đại kỵ trong Phong Thuỷ

Phòng tắm và Nhà vệ sinh

1/.Phòng tắm không nên ở cuối một hành lang dài: Lối đi sẽ lùa luồng khí di chuyển nhanh trở thành Ác Khí, qua cửa Phòng tắm, làm thương tổn các vấn đề nội tạng, cũng như sự sáng tạo của các thành viên trong nhà.

2/.Tránh làm Phòng tắm chung vách hoặc đối diện với Phòng ngủ, nếu có đối diện thì nên tránh làm hai cửa đối diện. Nhưng nếu làm Toilet chung với nó thì tốt nhất nên tránh đi.

3/.Tránh hai cửa Phòng tắm đối diện nhau: Những người cư ngụ ở đó thường có cảm giác bệnh tật chạy dọc theo đường trung tâm cơ thể của họ, hoặc phải chịu đau đớn của cơ thể, và các vấn đề về tài chánh sẽ suy giảm.

4/.Phòng tắm không nên làm hai cửa: Vì Phòng tắm là nơi tập trung nguồn nước nhiều nhất _ mà theo quan niệm Phong Thuỷ, nước là biểu tượng của tiền bạc_ nếu hai cửa, thì lợi nhuận sẽ tuôn chảy mất hết.

5/.Phòng tắm và Toilet đối diện cửa chính: Nghĩa là vừa bước vào cửa đã thấy ngay Phòng tắm hay Toilet. Ở vị trí này, Sinh Khí mới chuyển vào nhà, đã bị Phòng tắm và Toilet cuốn trôi đi hết.

6/.Phòng tắm và Toilet đối diện với nhà Bếp hoặc ở trong nhà bếp: Trường hợp này thường thấy ở những nơi diện tích nhà nhỏ hẹp, hay ở một số nhà hàng nhỏ ở Việt Nam ta. Về mặt khoa học, Bếp và Toilet gần nhau là điều mất vệ sinh. Về mặt Phong Thuỷ, Bếp là Hỏa ,Toilet là Thủy, nếu Thủy vượng tất Hỏa phải tắt, Hỏa tắt thì Bếp nguội lạnh. Một căn nhà mà Bếp nguội lạnh là điều không tốt rồi, huống hồ là một tiệm ăn, một nhà hàng, sẽ vắng khách là điều tất nhiên.

7/.Phòng tắm hay Toilet quá nhỏ: Có nhiều người suy nghĩ được nhiều điều hay, giải quyết được nhiều vấn đề, hoặc có những sáng kiến mới lạ, là cũng ngay trong những giây phút riêng tư trong Phòng tắm hay Toilet. Bởi vậy, nếu Phòng tắm hay Toilet quá nhỏ, sẽ giới hạn Sinh Khí vào nơi này. Cũng có nghĩa là giới hạn sự suy nghĩ và sáng tạo của những người có thói quen như vậy. Nhưng điều trở ngại chính là Sinh Khí vào đây gặp không gian tù túng sẽ khó luân lưu, Khí bị tù hãm, từ Sinh Khí sẽ thành Ác Khí.

8/.Phòng tắm và Toilet tối kỵ nền cao hơn nền Phòng ngủ

9/.Phòng tắm riêng thì không nên to rộng quá: Nó tạo cảm giác lạnh lẽo, thiếu sự kín đáo, nghiêm túc, khiến người tắm hay có cảm giác bất an.

10/.ĐẠI KỴ đặt Phòng tắm hay Toilet ở Đông Nam hoặc Tây Nam: Như đã nói ở các phần trước, góc Đông Nam là cung TÀI LỘC, góc Tây Nam là cung TÌNH DUYÊN và HÔN NHÂN. Như vậy, mỗi lần chúng ta tắm hay giật nước bồn cầu là mỗi lần sinh Khí bị cuốn trôi. Đó cũng có nghĩa là những may mắn, tiền bạc, Tình yêu, hạnh phúc gia đình sẽ bị cuốn trôi theo dòng nước.


Đấy là trường hợp nhà ở đô thị, Phòng tắm và Toilet ở hẳn trong nhà. Ở vùng nông thôn, các nhà Vệ sinh thường được làm riêng bên ngoài. Tuy nhiên, dù có làm ở trong hay ngoài thì nó vẫn theo một số điều căn bản bắt buộc:
_ Nhà Vệ sinh không nên đặt ở hai phương Bắc và Đông Bắc: thường khiến Nam, Nữ chủ nhân mắc bệnh động mạch xơ cứng, gan cứng, mật kết sỏi, đi lỵ, đau dạ dầy, đại tiện bí, ăn bị trúng độc, khí huyết không lưu thông. Với người già thì sức khoẻ càng không tốt .
Nếu quý vị nhận thấy bị đau lưng dai dẳng, thường ruột hay bị bệnh thì hãy kiểm tra nhà xí. Chắc chắn nhà xí ở đó đã có vấn đề không hợp.
Nếu đã lỡ đặt nhà xí tại đây và không thể dời được, thì hãy xoay hướng bàn cầu lại, tránh đặt ở 15 độ của cung Tý, và 15 độ của cung Sửu, và thêm cách Hóa giải Tà Khí.
_ Nhà Vệ sinh nên tránh đặt ở những cung địa chi trong 24 Sơn đã nói ở phần trước, vì sẽ phạm phải Thái Tuế vào những năm trùng tên với địa chi ấy, hoặc 6 năm sau phạm Tuế Phá.
Ví dụ: đặt Toilet ở cung Sửu chẳng hạn. Đến năm Sửu, sẽ phạm Thái Tuế. Sáu năm sau, đến năm Mùi, sẽ bị phạm Tuế Phá.
Đó là lý do vì sao ở trên NCD khuyên nên tránh hai cung Tý và Sửu.
_ Nhà Vệ sinh nên đặt ở những nơi nghịch với nhóm Quái số của gia chủ.
Ví dụ: Gia chủ có Quái số là 4_ cung Đoài. Thì nên tránh đặt Toilet trấn ngay cung Đoài.
Nhà Vệ sinh mà đặt nơi Sinh phương tức là phá vỡ Cát tinh, rất bất lợi.
_ Nhà Vệ sinh ĐẠI KỴ an tại trung cung (kể cả hầm cầu).
Đây là cách cục XÚ UẾ NHẬP TRUNG CUNG_ cực kỳ xấu về mặt Phong Thuỷ.

Ngoài những điều căn bản nói trên, NCD xin nhắc các anh chị, các bạn thêm ba điểm nữa:
_ Trong nhà, nếu có bất kỳ vòi nước, ống nước nào bị rò rĩ, xin hãy sửa hoặc thay ngay. Bởi Nước là Tiền mà! Để nước chảy rỉ rả như thế là hiện tượng thất thoát, hao tổn tài sản, tiền của đấy!
_ Hãy làm sạch vùng không gian Phòng tắm và Toilet: Hãy dẹp bỏ những thứ gây bề bộn trong phòng tắm như: Giỏ rác đầy ứ, chai lọ hoặc ống kem đánh răng rỗng, đĩa đựng xà bông không cần thiết, thuốc hết hạn sử dụng, mỹ phẩm khuyến mãi....không dùng đến, dầu tắm và nước hoa....không bao giờ dùng....vv..
Tất cả những thứ này đều là những thứ có thể tích tụ năng lượng Âm xấu, gây hại cho ta.
_ Nhiều người cho rằng để xóa ảnh hưởng xấu của toilet thì nên trang trí Toilet bằng tranh ảnh, chưng hoa trong đó. Nhưng theo NCD, xin khuyên các anh chị, các bạn đừng nên. Vừa lãng phí, vừa vô bổ không ích lợi gì, nếu không muốn nói là còn gây hại. Xin quý vị hãy cẩn thận!

BẾP VÀ CÁC VỊ TRÍ ĐẶT BẾP

hướng Bếp và Miệng lò..... hoàn toàn không phải là một!
Hướng Bếp là: Mép, bìa của khuôn đặt Bếp, nó đối diện trực tiếp với mặt người nấu tức là Táo khẩu. Miệng lò là: Chỗ đưa củi vào đốt, hay nói cách khác, đó chính là Hỏa môn.
Có danh từ Táo khẩu vì: Bếp xưa kia có đóng khung bốn bên vách, vách ở Hướng Bếp được cắt đôi, chừa một khoảng trống để quét tro, than trên mặt khuôn bếp ra cho sạch sẽ. Chỗ đó làm thành cái Miệng của Bếp nên gọi là Táo khẩu. Cho nên Táo khẩu xác định Hướng bếp
Bếp ngày nay không có đóng khung bốn vách, chỉ là 1 tấm bê-tông để đặt Lò, Bếp gaz lên nấu nướng thôi. Vậy thì: Hướng bếp là bìa đối nghịch với lưng Bếp, hay nói đơn giản hơn cho dễ hiểu, Hướng Bếp chính là hướng lưng của người nấu Bếp vậy.
BẾP là nơi nấu nướng thức ăn để nuôi dưỡng chúng ta, nên có thể nói Bếp hút dưỡng chất trong không khí vào để giúp lửa cháy. Do đó, nếu Hỏa môn hút những trược khí, nghịch hay ác khí, tất sẽ đem lại những ảnh hưởng tai hại. Cũng ví như ta hút những chất độc hại đó vào thức ăn vậy.
Cho nên, Hỏa môn phải thuận hợp cung mạng của Trạch chủ.
Mặt sau của Bếp là nơi Hỏa khí thịnh vượng, vì sức lửa cháy dồn tới mà, cho nên nó có tác dụng trấn áp hung hại, cần xoay mặt sau về hướng xấu.
Mặt trước của Bếp (trước Hỏa môn và Hướng bếp) không nên trực diện với nhà xí, nhà tắm, nơi có uế khí, bồn chứa nước, bồn rửa mặt, sàn rửa chén bát, lu nước, giếng nước. Vì Thủy Hỏa tương khắc, nên nếu là Nước thì trong nhà sẽ gây gỗ, cải vã; còn nếu là ô uế thì sẽ bệnh đau.
Trước Bếp và trước trang thờ Ông Táo không nên làm phòng ngủ hay để giường ngủ, vì sẽ khiến người nằm ở đó đau tim, đau ngực, con cháu không lương thiện, gia đạo bị phá tán, tai nạn liên miên.
Không nên để Hỏa môn xoay ra phía cửa, đây là điều Đại Kỵ trong Phong Thuỷ với Bếp, nó là "Khai môn đối Táo, tài súc đa hao".
Không nên trổ cửa sổ hướng Tây trong nhà Bếp. Nghe có vẻ phi lý, nhưng theo NCD nghĩ có lẽ thuyết này có từ suy nghĩ: nắng chiều tuy nhàn nhạt nhưng rất nóng (dân gian có câu "gái thương chồng đương đông buổi chợ, trai thương vợ nắng quái chiều hôm" mà=> gái thương chồng thì thể hiện rõ rệt như buổi chợ đông, trai thương vợ tuy thấy nhàn nhạt như ánh nắng chiều_ nhưng nắng chiều nhiệt độ nóng hơn nắng sáng rất nhiều_ nhưng lại rất nồng nàn), không mở cửa sổ ở đây là tránh ánh nắng chiều rọi vào làm thức ăn dễ ôi thiu thôi.
Không nên đào hầm hố ngay trước Bếp, nếu có nước thì càng nguy, nó gây nên hư mắt, bệnh tật, xảy ra nhiều việc quái đản.
Không nên để BẾP và Giếng nước, hồ, lu nước liền kế bên nhau sẽ khiến mẹ chồng và nàng dâu bất hòa.
Bếp đặt trên đường nước, hầm nước: gia đạo ly tán, bất hòa.
Phòng ngủ và Hầm nước trước Bếp: Cô quả, tuyệt tự.
Hai bên Bếp gaz có vòi nước là quẻ Ly, tối kỵ.
Vòi nước ở giữa, hai bên là hai bếp gaz, quẻ Khảm, được.
ĐẠI KỴ để Bếp nằm dưới giường ngủ ở tầng trên.
Không nên để mặt sau của Bếp hướng về chuồng gia súc: gia súc tiêu hao; hướng về phòng ngủ: bệnh đau, tai nạn.
Về Hỏa Môn, nên xoay theo một trong bốn hướng tốt của gia chủ, và Du niên tốt của Bếp với Quái số của gia chủ, sẽ có thể hóa giải Hướng nhà xấu.
Ví dụ: Gia chủ có quái số là 1- cung Khảm, Cửa cái nhà là hướng KHÔN. Khảm_ Khôn biến du niên Tuyệt Mạng. Dùng Hỏa môn hướng về CHẤN, ta sẽ có: Khảm+ Chấn biến du niên THIÊN Y đủ sức hóa giải TUYỆT MẠNG.
Về Hỏa môn hóa giải Hướng nhà xấu, có ba trường hợp hóa giải đối với ba hướng xấu nhất, xin hãy nhớ kỹ :
_ Sanh Khí giáng Ngũ Quỷ
_ Thiên Y chế Tuyệt Mạng
_ Diên Niên yểm Lục Sát

Ngoài ra, khi xoay hướng Hỏa Môn, cần lưu ý điểm sau: Xét ba cung: Hỏa môn_ Cửa cái_ Quái số của gia chủ xem có rơi vào thuần Dương hay thuần Âm không. Vì theo Dịch lý "Cô Dương bất trưởng _ Độc Âm bất sinh". Và đây là bảng phân biệt Âm Dương của 8 cung
_ Các cung Dương: Càn, Khảm, Cấn, Chấn.
_ Các cung Âm: Tốn, Ly, Khôn, Đoài.
Nếu cung Mệnh gia chủ đã là Dương, gặp cửa cái cũng thuộc Dương, thì ta nên tìm Hỏa môn thuộc Âm
Đấy là kinh nghiệm của người đi xem nhà.
Nếu để rơi vào trường hợp Cô Dương hay Độc Âm: Ở lâu nhà đó sẽ TUYỆT TỰ.
Nếu gia chủ kém phúc thì chỉ trong một đời, chậm thì cũng chỉ tối đa là đến đời thứ ba, là nhà dần không còn con trai nối dõi, phụ nữ chấp trưởng trong nhà.
Bếp ở giữa mái hiên mà hai đầu không có cột: Chỉ sống nhờ người khác
Có xưởng lớn trước Cửa Bếp thì tán tài.
Bếp ở trước cửa: Bị Hỏa tai hay có bịnh về máu huyết.
Bếp ở liền với cối giã gạo: Có người trong nhà thắt cổ hay tự trầm.
Trước Cửa Bếp có khối đá chắn ngang: Trẻ con nhiều bệnh.
Bếp và Giếng cùng một hành lang: Con dâu và con gái lục đục.
Bếp đối diện với chuồng gà: Sinh chuyện dâm dục bị chê cười.
Bếp đặt phương Ngọ: Thường bị Hỏa tai và đau Mắt (bởi Ngọ là thuộc Ly Hỏa, nên Hỏa càng vượng, mà Hỏa vượng thì Mắt mờ_ theo y khoa).
Sau Bếp mở cửa sổ sáng láng: Tiêu hao tiền của.
Trước sau tả hữu Bếp có cửa mở xông vào: Bị thưa kiện tán tài.
Bếp đặt ở chỗ mọi người đều trông thấy: Tán tài.
Bếp đặt ở hướng Đông Bắc: Bị Thủy tai hoặc trộm cướp.
Cửa Bếp thông với Cửa Buồng: Bị bệnh thổ huyết.

VỊ TRÍ ĐẶT BẾP:

Như đã nói ở trên, BẾP nên đặt ở Hung phương nhằm trấn áp Hung khí, Tà khí ở đó. Còn Hỏa môn thì xoay một trong bốn hướng tốt, thuận hợp với Quái số của gia chủ.
Vậy thì, nếu BẾP đặt đúng vị trí thì có ích lợi gì? đặt sai vị trí thì bị hung hại gì?
Đây là 8 vị trí đặt BẾP ở các hướng trong nhà và ảnh hưởng của nó:
1/.Bếp đặt tại cung Sanh Khí của gia chủ: thì phụ nữ sinh quái thai hoặc hư thai, hay không đẻ được, hoặc có con mà không thông minh; không được tài lộc, điền địa; lục súc tổn hại.
2/.Bếp đặt tại cung Diên Niên của gia chủ: thì không thọ; hôn nhân không thành, nếu đã có gia đình thì vợ chồng bất hòa hợp; tốn của; hao người; bệnh hoạn; cùng quẩn.
3/.Bếp đặt tại cung Thiên Y của gia chủ: thì lâm bệnh nặng, thân thể ốm yếu, phục thuốc thang lâu khỏi.
4/.Bếp đặt tại cung Phục Vì của gia chủ: thì vô tài; vô thọ; suốt đời nghèo khổ.
5/.Bếp đặt tại cung Tuyệt Mạng của gia chủ: thì không bệnh tật, tăng thọ, phát tài, nhiều con, tìm được gia nô, không bị Hỏa tai.
6/.Bếp đặt tại cung Lục Sát của gia chủ: thì phát cả Đinh lẫn Tài (là người lẫn của), vô bệnh tật, vô kiện cáo, vô Hỏa tai, cửa nhà yên ổn.
7/.Bếp đặt tại cung Ngũ Quỷ của gia chủ: thì vô Hỏa tai, vô đạo tặc (không trộm cướp), gia nô (người giúp việc) trung thành- cần mẫn- đắc lực, vô bệnh hoạn, phát tài, lục súc thịnh vượng.
8/.Bếp đặt tại cung Họa Hại của gia chủ: thì bất thoái tài, bất thương nhân (là không hao tổn tiền của, không hại người), vô bệnh hoạn, vô kiện tụng.

Ngoài ra, trong việc đặt vị trí Bếp, khoa Phong Thuỷ còn tính chi li hơn khi tính đến vị trí của từng Sơn. Đọc đến đây là các anh chị, các bạn đã tiến thêm một bước nữa vào khoa Phong Thuỷ, vì bây giờ không chỉ nói đến tám hướng Bát Quái căn bản nữa, mà mỗi hướng Bát Quái lại chia ra 3 Sơn nhỏ trong đó nữa. Cụ thể như sau:
_ Càn gồm ba Sơn: TUẤT-CÀN-HỢI.
_ Khàm gồm ba Sơn: NHÂM-TÝ-QUÝ.
_ Cấn gồm ba Sơn: SỬU-CẤN-DẦN.
_ Chấn gồm ba Sơn: GIÁP-MẸO-ẤT.
_ Tốn gồm ba Sơn: THÌN-TỐN-Tỵ .
_ Ly gồm ba Sơn: BÍNH-NGỌ-ĐINH.
_ Khôn gồm ba Sơn: MÙI-KHÔN-THÂN.
_ Đoài gồm ba Sơn: CANH-DẬU-TÂN.
Đến đây, hẳn các anh chị, các bạn có thể thấy những tên gọi này hơi quen quen phải không? Xin thưa, trở ngược lên trên các anh chị, các bạn sẽ thấy ngay hình vòng tròn Bát Quái có 24 Sơn này, và không chỉ thế, nó còn có thêm các chấm tròn trắng hoặc đen ngay kế bên nữa. Rất dễ xác định Sơn nào tốt để đặt Bếp, xin cứ chọn những ô có chấm tròn trắng là Cát, đen là Hung. Và NCD xin đăng luôn một bài thiệu để các anh chị, các bạn dễ nhớ:
Táo (tức là BẾP đấy quý vị) nhập CÀN cung thị diệt môn (thế nào cũng chết người).
NHÂM- HỢI nhị vị tổn nhi tôn ( là hại con cháu ).
GIÁP- DẦN đắc tài, THÌN- MẸO phú.
ẤT- CẤN tao(là tao ngộ ) Hỏa tất tai ôn (là gặp tai họa, bệnh tật).
TÝ- QUÝ- KHÔN cung gia bần khốn (là nhà nghèo khổ, nạn tai liên miên).
SỬU thương lục súc, phúc nan tồn (khó nuôi súc vật, phúc đức tiêu hết).
TỴ- BÍNH ích tàm, CANH đại cát ( Ích tàm là lợi về nuôi tằm, dệt vải).
Nhược phùng NGỌ vị vượng nhi tôn (nhiều con cháu).
TÂN- DẬU- ĐINH phương đa tật bệnh (nhiều bệnh tật).
TỐN- THÂN- MÙI- TUẤT trạch hanh xương (hanh thông, thuận lợi mọi việc).

CẦU TỬ BÍ PHÁP:

Cầu tử ở đây là cầu con đấy, xin đừng hiểu lầm là chữ Tử kia thì phiền lắm đa!

Theo các " tiền bối " xưa thì có hai cách qua việc đặt Bếp, nhưng qua kinh nghiệm đi xem của NCD tôi, thì thấy cách thứ hai ứng nghiệm xác suất cao hơn. Tuy nhiên, tôi cũng ghi ra đây cả hai cách để các anh chị, các bạn tham khảo và thử xem:
1/.Đặt BẾP trấn tại Hung phương của gia chủ và Hỏa môn xoay hướng SANH KHÍ sẽ sớm sinh quý tử.
2/. Đặt BẾP trấn tại Hung phương và Hỏa môn xoay hướng PHỤC VÌ của gia chủ, đến năm sao THIÊN ẤT QUÝ NHÂN chiếu đến cung này sẽ ứng nghiệm ngay. Thế sao THIÊN ẤT QUÝ NHÂN là gì? Đó là sao Nhị Hắc đấy, là sao số 2 đó quý vị. Còn cách tính đường đi của sao đây :


4 9 2 tốn ly khôn

3 5 7 chấn trung đoài

8 1 6 cấn khảm càn

Ở đây tôi không muốn đi sâu vào phần nguồn gốc các ô vuông này, chỉ nói về đường di chuyển của các sao. Xin quý vị lưu ý cho, phần tính đường đi của các sao này rất quan trọng, sau này khi nghiên cứu về Huyền Không, thì đây là cách di chuyển của các sao, còn gọi là phép Lường Thiên Xích.
Luôn luôn khởi từ Trung cung (cung giửa) và kế đến là ô số 6, rồi ô số 7, rồi ô số 8... cho đến ô số 4, rồi quay lại Trung cung, cứ thế mà di chuyển. Để cho dễ nhớ, quý vị hãy thuộc làu thứ tự sau:
Nhất KHẢM- Nhì KHÔN- Tam CHẤN- Tứ TỐN- Ngũ TRUNG- Lục CÀN- Thất ĐOÀI- Bát CẤN- Cửu LY.
Đó là ô vuông căn bản, nếu ô giửa không phải là số 5 thì cũng vậy, đường di chuyển cũng vậy, và các số cứ tăng dần, hay giảm dần theo đường di chuyển đó.
Ví dụ: Cho số 8 vào giửa chẳng hạn, ô vuông lúc đó sẽ thành thế này sau khi di chuyển các SAO

7 3 5 Vì sao số 8 ở giửa nên sao số 9 di chuyển xuống theo thứ
tự đến ô góc Tây Bắc và an ở đó; kế số 9 là số 1 sẽ
6 8 1 chuyển theo đường như vậy lên an ở ô hướng tây...
cứ vậy mà di chuyển. Khi quý vị đã nhớ đường
2 4 9 ô vuông Lạc Thư rồi thì rất dễ, bước đầu có hơi khó một tí, nhưng xin hãy cố
mà nhớ đường đi này của các Sao, vì sau này nó ứng dụng rất nhiều trong việc
hỗ trợ chúng ta trong việc nghiên cứu phái Huyền Không.

Xin trở lại với Sao THIÊN ẤT kia, như đã nói nó là sao số 2. Vậy bây giờ, giả sử gia chủ có quái số là 8 chẳng hạn. Ta xoay Hỏa môn hướng Phục vì tức là xoay hướng cung CẤN
Xem hình căn bản, ta thấy để đi đến cung này, từ trung cung phải đếm tới 3 cung nữa. Bây giờ, điều ta cần là số 2 ở đó, tức là: số 1 ở Đoài, số 9 ở CÀN, số 8 ở giữa.
Vậy khi nào số 8 ở giữa? Con số ở giửa là con số của Sao chủ tinh năm đó.
Vậy làm sao tìm Sao chủ tinh của năm ?
Xin mách các anh chị, các bạn một cách tìm cực kỳ nhanh khỏi cần phải tra sách do NCD để ý thấy: Xin tính Quái số của Nam năm cần tìm, thì đó là Sao chủ năm đó
Ví dụ: Năm 1987, tìm xem Sao chủ năm đó là gì nhé, ta tính y như tìm Quái số
8+7=15
1+5=6
10-6=4
Vậy năm đó Sao số 4 nằm ở Trung cung. Đưa số 4 vào giửa rồi di chuyển các sao, ta sẽ có 9 ô vuông năm đó là: 3 8 1

2 4 6

7 9 5

Ví dụ nữa ở thời điểm năm sau đi: năm 2010
0+1=1
vì sau năm 2000 nên không lấy 10 mà chỉ lấy 9 trừ đi thôi, xin đừng quên!
9-1=8
vậy Sao chủ tinh của năm nay là số 8, hay nói cách khác, năm 2010 số 8 nằm ở trung cung
Nhập số 8 vào giửa rồi di chuyển theo hướng đi căn bản ở trên, ta có 9 ô sau :

7 3 5

6 8 1

2 4 9

Vậy sang năm sau số 2 cần tìm nằm ở cung Cấn
Có nghĩa là những ai có quái số là 8, xoay Hỏa môn hướng Đông Bắc, sang năm sẽ sinh con (wao, dĩ nhiên ở đây là NCD nói những ai có gia đình và muốn có con đó nghen! Chứ những người không có gia đình mà hỏi cắc cớ là tội NCD lắm; hay là có gia đình mà chưa muốn có con, đi kế hoạch thì làm sao có con được?! Cái gì cũng phải hợp lý phải không quý vị?)

Cái vụ này rắc rối quá, thôi thư giản chút vậy.
NCD xin chỉ vụ này dễ hơn và tin rằng ai cũng muốn biết, đó là Cầu Tài Bí Pháp
Cái này thì rất đơn giản, chỉ cần đặt BẾP trấn Hung phương, Hỏa môn xoay hướng Diên Niên, thế là....xong! đơn giản không?
Dĩ nhiên, bất cứ làm việc gì trong khoa Phong Thuỷ này cũng cần xem ngày giờ, và đó là điều...QUAN TRỌNG NHẤT!!!

Hôn nhân & Tình yêu trong Phòng ngủ

PHÒNG NGỦ VỢ CHỒNG:
Để có được một cuộc sống vợ chồng hòa hợp, hạnh phúc chỉ cần các anh chị, các bạn thực hiện những điều đơn giản sau:
_ Những năm đầu sau khi cưới: Nên trang trí phòng ngủ bằng màu ĐỎ. Nếu e màu Đỏ quá mạnh (khi tuổi của 2 vợ chồng đã là Mạng Hỏa), thì hãy dùng màu HỒNG. Gam mau này là gam màu nóng, thuộc Dương, tại sao lại xài được trong phòng ngủ? Xin thưa, vì đây là dùng cho vợ chồng còn trẻ, vợ chồng son mới cưới mà.
Màu ĐỎ tạo ra cảm xúc mạnh mẽ về Tình Dục, và năng lượng Dương của nó sẽ đem lại vận may cho sự hợp nhất. Đây là điều vì sao mà người Hoa luôn dùng màu ĐỎ trang trí phòng cưới đấy!
Tấm drap trải giường nên màu trắng là tốt nhất, không nên dùng màu xanh dương, nó sẽ làm nguội lạnh tình cảm đôi vợ chồng trẻ. Tuy nhiên, thảm và sơn tường thì màu xanh dương lại tốt.
_ Đừng mang cây và hoa thật vào phòng ngủ: Ngược lại, trái cây thì tốt. Đặc biệt là quả Lựu, vì nó là biểu tượng của sự sung mãn.
_ Đặt những ngọn đèn nhỏ màu đỏ trong phòng: Nên nhớ chỉ là những bóng đèn nhỏ thôi. Nó tăng cường sự đam mê và sung mãn.
_ Nên treo tranh ảnh trẻ em và trái cây chín: Đây là những biểu tượng mang ý nghĩa tượng trưng cho kết quả của việc hợp nhất tốt đẹp.
_ ĐẠI KỴ để biểu tượng hành Thủy trong phòng ngủ, như bồn cá, bồn rửa mặt, tranh sông biển....vv... Vì sự có mặt của nước ở đây sẽ tạo ra sự mất mát tiền bạc và người thân.
_ ĐẠI KỴ đặt hoa Mẫu Đơn (kể cả tranh hoa Mẫu Đơn) trong phòng ngủ vợ chồng, vì nó khiến người đàn ông có thói trăng hoa, và chắc chắn sẽ ngoại tình!!!
_ ĐẠI KỴ có nước ở bên phải phòng ngủ (hay ở bên phải nhà), vì nó cũng khiến người chồng ngoại tình, và .....lập "phòng nhì" ở bên ngoài!!!
_ ĐẠI KỴ đặt giường dưới cây xà (đà) dọc, mà nó chia đôi giường theo chiều dọc. Đây cũng là biểu tượng của sự chia ly đối với vợ chồng.
_ ĐẠI KỴ đặt gương soi trong phòng ngủ, nhất là khi nó rọi vào giường. Về mặt sức khoẻ, khi chúng ta ngủ thì từ trường trong cơ thể chúng ta xuống thấp, gương sẽ hút thêm nữa, khiến chúng ta ngủ dậy sẽ rất mệt. Về phương diện tình cảm, gương soi tạo ra hình ảnh người thứ ba, nó khiến cho một trong hai người sẽ ngoại tình.
_ Phòng ngủ ở phía Bắc của nhà, sẽ không thích hợp với tuổi trẻ hoặc những cặp vợ chồng son. Người ngủ trong phòng này lâu ngày sẽ trở nên bi quan, yếm thế, thích sống tịch mịch, cô đơn một mình thôi; cho nên không thích hợp cho vợ chồng ngủ.
_ Nếu thích chưng hoa hồng trong nhà, nên cắt hết gai nhọn của nó.
_ Nếu sử dụng giường đôi, ĐẠI KỴ dùng 2 tấm nệm ghép lại, vì nó tượng trưng cho sự chia cách.
_ NÊN treo tranh đôi uyên ương ở góc Tây Nam của nhà, của phòng ngủ; hoặc đặt một đôi uyên ương bằng sành sứ trong phòng. Nhưng nếu nó bị bể, vỡ một con thì nên thay cả một cặp. Không nên chưng ba con hay là số lẻ.
_ Dùng những biểu tượng và những biện pháp chuyên môn khác để tăng cường năng lượng cho cung Tình Duyên ở Tây Nam.


PHÒNG NGỦ NHỮNG NGƯỜI CHƯA LẬP GIA ĐÌNH:

_Nếu bạn nữ nào còn độc thân muốn tìm ý trung nhân nên dùng biểu tượng, hình vẽ, hoặc hoa Mẫu Đơn thật trong phòng ngủ. Vì nó là biểu hiện của người phụ nữ đa tình nên không thích hợp cho phụ nữ có chồng, nhưng với các cô gái thì đây là một biểu tượng tốt, rất tốt nữa là khác. Hãy để biểu tượng này ở góc Tây Nam của nhà, và cả góc Tây Nam của phòng ngủ.
_ Hãy đeo đồ trang sức có biểu tượng Song Hỷ.
_ Đặt biểu tượng đôi Uyên Ương, đôi Vịt Bắc Kinh ở góc Tây Nam nhà, và cả góc Tây Nam của phòng ngủ.
_ Đặt giường ngủ quay đầu về hướng Diên Niên.
_ Đặt một tấm gương soi gần cửa sổ làm sao để ánh trăng phản chiếu vào nó soi vào phòng. Năng lượng cực Âm của Mặt Trăng sẽ đem lại hạnh phúc cho bạn!!!
_ Vào những đêm trăng sáng như RẰM chẳng hạn, hoặc những đêm Trăng Non, bạn hãy tắm mình trong năng lượng Thái Âm huyền diệu của Mặt Trăng !!!

Phòng ngủ

một đoạn quảng cáo về nệm giường, trong ấy có nói "1/3 cuộc đời của bạn nằm trên giường ngủ". Vâng, nói như thế cũng gần đúng, vì theo tôi thì ít nhất 1/3 cuộc đời mình nằm trên giường ngủ mới đúng. Bởi khi lớn chúng ta ngủ 8 giờ một ngày (chiếm 1/3), nhưng lúc nhỏ chúng ta ngủ một ngày hơn 8 giờ cơ mà?
Nói như thế để thấy cái tầm quan trọng của cái giường ngủ, hay nói chung là sự quan trọng của một phòng ngủ trong cuộc sống hằng ngày. Khi ngủ, chúng ta vừa nghĩ ngơi về thể xác cả về tinh thần. Một giấc ngủ ngon có thể đem lại nhiều hữu ích cho chúng ta, vì khi ta ngủ thì đó là thời gian để cơ thể tái tạo lại năng lượng ta đã tiêu haotrong ngày (do làm việc, suy nghĩ, lo lắng, cảm xúc....). Ngoài ra, một giấc ngủ ngon còn giúp chúng ta tăng cường trí nhớ, tăng cường khả năng tư duy, sáng tạo, giúp chúng ta dễ dàng đưa ra những quyết định sáng suốt hơn dẫn đến thành công hơn trong cuộc sống.
Nói đến thiết kế phòng ngủ theo Phong Thuỷ, trước tiên, ta hãy xét đến hình thể của phòng ngủ trước. Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, rất nhiều nhà khi xây cất, để thuận tiện sinh hoạt, đã làm thêm phòng tắm và toilet riêng trong phòng ngủ. Và đa số trong những trường hợp này, phòng ngủ sẽ có hình chữ L vì phòng tắm + toilet kế bên. Như vậy, khi đem Bát Quái sơ đồ đặt vào phòng ngủ, nó sẽ bị khuyết ngay một hoặc hai cung. Trong khi chúng ta lo định hướng, thiết kế nhà sao cho hợp Phong Thuỷ, thì chính sự tiện lợi không đáng này đã vô tình phá hỏng các bước tốt đẹp bên ngoài. Cho nên, lời khuyên của tôi cho trường hợp này có hai cách:
1/.Nếu chưa xây, mà muốn làm thêm phòng tắm + toilet trong phòng, thì hãy tính sao cho hình dạng phòng vẫn vuông vắn, đầy đặn, không khuyết góc nào là được.
2/.Nếu đã lỡ làm rồi, thì dúng bình phong chắn ngang để phòng trở lại dạng hình chữ nhật cân đối.
Ngoài ra, khi thiết kế phòng ngủ cũng nên lưu ý đến vị trí của phòng ngủ so với căn nhà. Về điều này, có hai điểm cần lưu ý như sau:
_ Nếu chia căn nhà ra làm hai phần tính từ trước ra sau, thì phòng ngủ tránh nằm ở nửa trước của căn nhà. Vì Sinh Khí di chuyển từ ngoài đường vào nhà, nên phần trước sẽ chịu sự dao động mạnh của Khí, khiến giấc ngủ dễ bị xáo trộn.
_ Tránh làm phòng ngủ dưới một mái dốc đáng kể. Vì đó là nơi các luồng Ác Khí trượt đi. Nếu không tránh được thì cũng không nên đặt giường ngủ nơi mái dốc đổ thấp xuống.

Ngoài hai điều trên, vị trí phòng ngủ còn có một số điều kiêng kỵ sau:
_ Phòng ngủ đối diện cửa chính: Nếu vừa bước vào Cửa Cái đã thấy phòng ngủ đối diện (ý tôi là cửa phòng ngủ cũng quay ra cửa cái), thì ở trong phòng này: Gia chủ sẽ mất dần hết nghị lực làm việc, hay cảm thấy mệt mõi, và có ý nghĩ về chuyện chăn gối nhiều hơn.
_ Phòng ngủ nằm dưới xà ngang, xà dọc trên trần: Những cây xà này phát sinh những áp lực rất mạnh đè xuống Sinh Khí đang luân lưu trong phòng. Nếu xà ngang trên giường ngủ thì người ngủ trên đó thường hay bị nhức đầu, dễ bị mất ngủ, ăn khó tiêu. Nếu là xà dọc chia đôi giường ngủ thì càng nguy hiểm hơn cho vợ chồng, vì nó là biểu tượng của sự chia cách, vợ chồng sẽ bất hòa rồi dẫn đến chia ly không xa.
_ Phòng ngủ không có phòng tắm + toilet nhưng chung vách, lại xoay đầu về hướng đó. Cơ thể con người gồm một phần lớn là nước, trong trường hợp này, Sinh Khí trong cơ thể sẽ dễ bị sự di chuyển của nước bên phòng tắm cuốn hút đi, tạo nên sự mất quân bình trong cơ thể chúng ta.

Sau khi tạm lướt qua về hình dáng, vị trí của phòng ngủ, chúng ta hãy đi sâu vào chi tiết. Nguyên tắc đầu tiên và căn bản nhất đối với phòng ngủ là phải thuộc Âm. Vì phòng ngủ là nơi nghĩ ngơi cần sự yên tĩnh, mà Dương thì động, Âm mới là tịnh. Vì đặc tính này, mà người ta hay bảo không nên để tivi, radio, máy hát, máy vi tính... trong phòng ngủ, bởi những thứ này là động; mặt khác, những điện từ trường của chúng sẽ làm nhiễu loạn từ trường trong cơ thể chúng ta làm cho giấc ngủ chúng ta bị gián đoạn.
Hãy xem phòng ngủ như một vùng không gian thiêng liêng, vì đó là nơi chúng ta trải qua tất cả thời gian trong vô thức, rời khỏi thế giới của thực tại để đi vào những vùng không gian khác. Đừng để phòng ngủ tích tụ năng lượng Âm có hại, có mùi hôi (Âm Khí này là Tà Khí chứ không phải năng lượng Âm tích cực); hãy bỏ quần áo bẩn vào một chỗ gọn gàng, quần áo bẩn chứa Âm Khí nhiều nhất và lan tỏa nhanh nhất. Đừng để đồ đạc linh tinh bên dưới, bên trên hoặc bên cạnh giường ngủ. Đừng biến phòng ngủ thành nơi chứa đồ đạc, vì khi đó, Sinh Khí sẽ bị bế tắc, dồn ép khiến người ngủ trong phòng cảm thấy ngột ngạt, dễ bị chứng mất ngủ.
Nói đến Phong Thuỷ phòng ngủ là không thể không nói đến vị trí đặt giường. Bởi đó mới chính là nơi chúng ta trực tiếp nằm lên mà. Về vị trí đặt giường thì nó theo một số nguyên tắc cơ bản:
1/.Giường ngủ phải luôn nhìn ra cửa, hãy đặt giường ngủ làm sao để người nằm trên giường luôn thấy được cửa phòng.
2/.Giường ngủ ĐẠI KỴ đặt trực diện với cửa phòng. Vì nơi đây, Sinh Khí mới vào phòng sẽ rất mạnh, làm chúng ta mất ngủ. Mặt khác, theo người HOA, thì chỉ có......quan tài mới đặt trực diện cửa như vậy.
3/.Giường ngủ phải đặt đúng hướng tốt của người nằm trên đó. Hướng tốt nhất cho giường ngủ là hướng Sinh Khí (Xin xem ở trên để biết). Nếu không được, thì chọn một trong 3 hướng còn lại hợp với mệnh mình cũng đủ tốt.
4/.Giường ngủ tránh đặt quay đầu ra cửa sổ. Nếu không thể dời giường sang nơi khác thì hãy: Đóng cửa sổ đó lại và thả rèm cửa dầy luôn.

CỬA CÁI-CỬA SỔ

Trong Phong Thuỷ có rất nhiều trường phái, nhưng dù là thuộc trường phái nào thì CỬA CÁI vẫn là một trong những điểm trọng yếu. Bởi theo như người xưa thì ông bà ta gọi CỬA CÁI là Môn Khẩu, mà người ta nói: "Bệnh tòng khẩu nhập, họa tòng khẩu xuất". Nếu như nói cái miệng là nơi thu nhận năng lượng cho cơ thể cũng không sai, vì thức ăn vào từ miệng; nếu thức ăn bổ thì tốt cho cơ thể, thức ăn độc hại thì gây họa cho cơ thể. Cửa Cái cũng như cái miệng của một căn nhà vậy. Nó là nơi thu nạp KHÍ của Vũ trụ vảo nhà, nên cực kỳ quan trọng.
Nói đến KHÍ, ngay từ ngàn xưa, các nhà Phong Thuỷ đã nhận thấy KHÍ hiện hữu khắp nơi, tràn đầy khắp không gian. Ngày nay, các nhà khoa học phát hiện ra có một loại khí hiện hữu khắp nơi trong không gian_ giống như lý luận của các nhà Phong Thuỷ xưa_ là KHÍ Vi Ba (Microwaves). KHÍ không nhìn thấy bằng mắt thường, chỉ qua sự cảm nhận, qua kinh nghiệm tích lũy, mà những người hành nghề Phong Thuỷ xác định được hướng đi của KHÍ. Qua đó các nhà Phong Thuỷ mới đề nghị người này sử dụng hướng cửa này, người kia sử dụng hướng cửa kia. Cũng như có người nằm quay đầu hướng này thì dễ ngủ, nhưng với người khác thì hướng đó lại khiến họ mất ngủ vậy.
Nói đến CỬA CÁI, ngoài việc lấy hướng thích hợp như đã nói ở các phần trên, chúng ta còn phải tuân theo một số điều kiện như:
1/.Phải tạo cảm giác hấp dẫn Sinh Khí vào nhà:
Vì đây là nơi tiếp nhận Sinh Khí cũng như ta đón khách vậy, nên phải có một cảm giác thân thiện thì Sinh Khí mới vào được. Nghĩa là: từ hình dáng, tay nắm, màu sơn, thảm lót trước cửa......đều phải hài hòa, thích hợp với ngũ hành của gia chủ.
Ví dụ: Gia chủ có quái số là cung Ly, hướng của cửa là hướng Khảm. Tuy hai cung Ly, Khảm hỗ biến nhau ra du niên tốt là Diên Niên, nhưng Khảm thuộc Thủy, Ly thuộc Hỏa; Thủy khắc Hỏa, nên ta có thể dùng hành Mộc làm trung gian như sơn màu xanh lá, xanh da trời lợt, hoặc dùng thảm lót trước cửa màu xanh lá chẳng hạn.
2/.Phải tạo cảm giác an toàn cho Sinh Khí vào:
Nghĩa là phải tránh những "mũi tên độc" nhắm vào cửa trước, hay nói theo thuật ngữ Phong Thuỷ thì phải tránh những SÁT KHÍ từ bên ngoài nhắm vào nhà, mà nhất là nó ngay cửa trước. Những tia Ác Khí này có thể là:
_ Đòn dông nhà đối diện.
_ Cạnh tường nhà đối diện, hay cạnh một nhà cao tầng, một chung cư bên kia đường.
_ Một cột điện, một trụ điện cao thế trước cửa nhà.
_ Đối diện bên kia là: một nhà tang lễ, một nhà thương, một nghĩa địa, một nhà thờ, chùa miễu, một pháp trường, một căn nhà mục nát, một tượng đài chiến sĩ, một Đài Liệt sĩ, một doanh trại quân đội, một tòa án....vv...
_ Những cọc rào nhọn nhà đối diện chĩa sang.
........
Nói chung, những gì bất lợi đều nên tránh. Tuy nhiên, trong cuộc sống, không phải lúc nào chúng ta cũng có thể tìm được mảnh đất như ý để cất nhà. Nếu như vì một tình thế bắt buộc, khiến chúng ta phải cất nhà ở những nơi có điều kiện không hay như thế, thì ta sẽ dùng đến những công cụ hóa sát mà tôi sẽ nói đến vào lúc khác.
3/.Phải hài hòa với tổng thể của nhà :
Như đã nói ở những phần trước, Phong Thuỷ là một bộ môn nghệ thuật, nó cần một sự thẩm mỹ tương đối. Khi thiết kế CỬA CÁI, không nên:
_ Nhà quá lớn so với cửa: Khi đó KHÍ vào nhà bị hạn chế, cũng như hạn chế những vận may, những cơ hội của gia chủ vậy.
_ Nhà nhỏ mà cửa quá lớn: Khi ấy, KHÍ vào nhà nhiều quá gây sự mất quân bình Âm Dương trong nhà.
4/.Phải để KHÍ luân lưu từ từ khắp nhà:
Để đạt được điều này, không nên để CỬA CÁI thông thẳng một đường ra tới cửa sau. Vì như vậy, KHÍ vào nhà sẽ đi thẳng ra cửa sau mà thoát luôn. Cũng như gia chủ thấy vận may, thấy cơ hội đó nhưng không thể nào nắm bắt được.
Nếu đã lỡ xây dựng, kiến thiết nhà như thế thì phải dùng đến những biện pháp hóa giải làm nguồn KHÍ đi chậm lại vậy.
5/.Không nên chận đường đi vào của Sinh Khí:
Trước nhà phải quang đãng, không nên để gò đống hay kiến trúc nào làm cản trở dòng Sinh Khí vào nhà.
Vừa bước vào cửa không nên gặp ngay bức tường, Sinh Khí sẽ dội trở ra ngay.
6/.Trang trí bắt mắt:
CỬA CÁI cũng như diện mạo của căn nhà vậy. Gương mặt ta thì cần trang điểm, vậy tại sao CỬA CÁI lại không thể? Hãy trang trí, sơn phết mặt tiền nhà với những màu tươi sáng, bắt mắt. Điều này cũng như gặp người mặt mũi sáng sủa thì dễ có cảm tình hơn vậy.
7/.Kích thước hợp qui cách Phong Thuỷ:
Ngoài vấn đề kích thước phù hợp với kích thước nhà ra, còn phải chú ý đến kích thước cửa theo Thước Phong Thuỷ. Thước Phong Thuỷ chính là thước Lỗ Ban, một loại thước chuyên dùng trong Phong Thuỷ. Về thước Lỗ Ban, tôi sẽ nói riêng một bài vào khi khác, sẽ giới thiệu loại thước Lỗ Ban nào thông dụng hiện nay.
8/.Không nên để KHÍ trôi tuột đi:
Đại kỵ để cầu thang hướng thẳng ra cửa trước, khiến tất cả Sinh Khí trôi tuột ra ngoài hết.

Về cửa sổ thì:
_ Một phòng không quá 3 cửa sổ.
_ Hai cửa sổ không nên đối diện nhau.
_ Cảnh quan bên ngoài cửa sổ phải là cảnh quan đẹp đẽ, không nên là những cảnh hoang tàn, đổ nát.
_ Nếu là văn phòng làm việc thì không nên thiết kế cửa sổ sau lưng bàn làm việc (điều này tôi sẽ nói cặn kẽ hơn ở phần Phong Thuỷ với văn phòng làm việc).
_ Nếu là phòng ngủ thì không nên thiết kế cửa sổ ngay sát giường ngủ (tôi cũng sẽ nói cặn kẽ hơn về vấn đề này ở phần Sắp xếp phòng ngủ theo Phong Thuỷ).
_ Không nên để cửa sổ gần với Bếp (tôi cũng sẽ nói rõ hơn ở phần Bếp và Phòng ăn trong Phong Thuỷ).
_ Không nên thiết kế quá nhiều cửa sổ cho một căn nhà, vì như vậy, KHÍ vào nhà sẽ thoát ra nhanh chóng, không có lợi. Mặt khác, Cửa Cái là Thuỷ, Cửa sổ là Hoả, nên khi lượng Cửa sổ trong nhà nhiều quá sẽ tạo thành thế Thuỷ Hoả mất cân đối.
_ Không nên để cửa sổ đối diện với cửa chính, hãy dùng tấm màn vải dày ngăn ở cửa sổ.
Trên đây chỉ là một số điều căn bản về CỬA CÁI và CỬA SỔ. Ngoài ra, khi áp dụng Huyền Không hay Bát Trạch phần nâng cao, sẽ còn vị trí Cửa nơi nào để đón được Vượng khí vào nhà nữa. Những vấn đề ấy chúng ta sẽ bàn sau.

HỒ CÁ

Nhiều người thích trang trí Phòng khách bằng hồ cá & thích nuôi cá. Phòng khách có hồ cá thì sinh động hơn, và những lúc rảnh rỗi, nhìn cá tung tăng bơi lội trong hồ cũng thấy tâm hồn mình thoải mái hơn, như nhẹ bớt những ưu phiền trong cuộc sống vậy.
Nói đến hồ cá là ta nghĩ ngay đến Nước, hành Thuỷ. Hành Thuỷ phải nói là một Hành.... rất khó chịu nhất trong Phong Thuỷ, vì theo Dịch, lý của quẻ Khảm là "hảm dã" mà. Nước mà đặt sai vị trí trong Phong Thuỷ thì rất nguy hiểm_ nhất là khi ta sử dụng Trạch vận và Phi Tinh theo Huyền Không, chỉ cần nơi Sơn tinh vượng mà có nước là chiêu tai hoạ liền tức thì (nhẹ thì hao tổn tiền bạc, phá sản, bệnh tật; nặng thì thương tật, chết người). Cho nên, việc nuôi cá kiểng trong nhà coi thế mà lại cả một vấn đề. NCD hôm nay chỉ xin góp vài ý kiến với các anh chị, các bạn về hồ cá đặt trong nhà:
_ Các anh chị, các bạn muốn nuôi bao nhiêu con tuỳ thích, nhưng theo NCD tôi thì nên chọn con số 9 con, hoặc bội số của số 9 đối với nuôi cá vàng-đỏ hay cá chép. Với cá Kim Long thì không nhất thiết, tuỳ khả năng và tuỳ nhà quý vị lớn nhỏ nữa. Nên nhớ, nhà nhỏ mà để hành Thuỷ nhiều quá là rất nguy hiểm.
_ Không nên để hồ cá quá cao, hồ không nên quá lớn so với phòng.
_ Không nên đặt hồ cá sau salon.
_ Không nên đặt hồ cá trong nhà Bếp.
_ Không nên đặt 3 tượng Tam Đa PHÚC- LỘC- THỌ hoặc Tài Bạch Tinh Quân trên hồ cá. Vì các vị Thần này tượng trưng cho việc ban Phúc, ban Tài Lộc, nay đặt trên hồ cá khác nào.. tiền của trôi theo giòng nước.
_ TUYỆT ĐỐI không nên để hồ cá dưới chân cầu thang.
_ ĐẠI KỴ để hồ cá ở bên phải của nhà, từ trong nhìn ra.

Đường thông- Cửa thông

Là nói đến đường thông suốt từ Phòng khách ra nhà sau, hay còn gọi là hành lang trong, và cánh cửa ngăn Phòng khách với các kiến trúc phía sau. Về đường thông, NCD chỉ góp vài ý nhỏ sau:
_ Tránh làm hẹp quá.
_ Tránh dẫn thẳng tới Cửa hậu hay Cửa sổ hậu.
_ Tránh dẫn thẳng tới 1 nhà vệ sinh.
_ Tránh tối tăm.
Đấy là đường thông, còn Cửa thông?
1/. Vì sao phải có cửa này? Có một vài nguyên do:
_ Không ai muốn khách vào nhà có thể nhìn thấu ra sau nhà, soi mói chuyện riêng tư của họ, nên thiết kế cửa ngăn này là hợp lý.
_ Ngay từ ngàn xưa đến nay, đã có quá nhiều bài học trả giá bằng xương máu của các bậc tiền nhân, do việc bí mật bị tiết lộ do bàn bạc ở Phòng khách; tin tức rò rĩ có thể do người trong nhà nghe rồi vô tình tiết lộ, có thể do nội gián đối phương cài vào.... Trong thời đại hiện nay, khi mà tính cạnh tranh trên thị trường gay gắt, khốc liệt, thì việc bảo mật thông tin càng cần được xem trọng ("Sơ nhi bất lậu" mà). Như vậy, cánh cửa này càng cần phải có, và nó có thể ví như cánh cửa an toàn vậy.
_ Thường Phòng ngủ là nơi bề bộn, để khách không thấy sự luộm thuộm này, làm cửa thông là hợp lý nhất
Nếu chúng ta thiết kế Cửa thông đẹp, khéo, nó có thể góp phần tô điểm thêm cho Phòng khách chúng ta vậy.
2/. Tác dụng và những điều nên tránh:
Đường thông là đường nối từ Phòng khách ra nhà sau, nên nó có tác dụng dẫn khí vào nhà, giao lưu với khí trong nhà.
Khi Cửa Cái và Cửa thông, Cửa sổ hậu nằm trên một đường thẳng là một điều TỐI KỴ. Bởi Vượng Khí vào nhà sẽ theo Cửa sổ hậu kia nhanh chóng thoát ra mà không vào các phòng. Giống như tiền bạc chỉ đi qua mà không ghé vào, hao tổn tiền bạc.
Về mặt thiết kế, gió từ Cửa Cái vào nhà, xộc thẳng vào và nhanh chóng thoát ra Cửa sổ hậu, làm nhà rơi vào tình trạng "Lộng gió". Thơ xưa hay dùng hình ảnh gió vào phòng ngủ, thổi vào màn cửa, biểu hiện sự lả lơi, rạo rực xuân tình. Nhà thơ LÝ BẠCH đời ĐƯỜNG cũng nói: "Xuân phong bất tương thức. Hà sự nhập la vi?".... Cái "Xuân phong" ấy trong phòng ngủ vợ chồng còn có thể tạm chấp nhận, nhưng với những ai độc thân chẳng phải..... lạnh lẽo lắm ru? Tệ hơn nữa, là ngọn gió mùa làm cho người ta cảm thấy cô đơn chiếc bóng..."Gió Thu se lạnh chốn phòng không. Chiếc bóng mình ta mòn mõi trông...". Gió Xuân còn chịu được, gió Thu hiu hắt làm lòng người chớm lạnh. Đến gió Đông thì... chỉ gây bệnh cảm thôi.
Nếu Cửa Cái dẫn thẳng tới nhà Vệ sinh: Ngồi ở Phòng khách mà nhìn thấy nhà Vệ sinh là điều mất thẩm mỹ vô cùng, nó lại càng mất vệ sinh hơn khi gặp phải cảnh......"cuốn theo chiều gió" ngược. Trường hợp này xây Cửa ngăn cách là hợp lý nhất.
Khi thiết kế Cửa thông này nên tránh làm các kiểu có vẻ như bưng bít, gây cảm giác chật chội, ngột ngạt, Sinh Khí không vào nhà được. Tốt nhất nên có một khoảng kính để tạo cảm giác thoáng hơn, và cho Sinh Khí đi qua được.
TUYỆT ĐỐI TRÁNH kiểu mẩu như đã nói ở phần Cửa sổ: Giống bia mộ người Trung Hoa.
Tránh kiểu thiết kế đắp thêm hai trụ hai bên cửa, vừa thiếu sự thẩm mỹ (trông rất cheap) vừa gây cảm giác chật chội, tù túng.
ĐẠI KỴ làm hai trụ, rồi gọt đẽo hay đắp hai đầu trụ thành hai cục tròn (như cái đầu vậy) lại sơn màu trắng. Đây là dấu hiệu TANG CHẾ, tuyệt đối không nên dùng, ngay cả cho cột ở cổng rào.
Khi Phòng khách không có Cửa sổ người ta không nên làm Cửa thông, vì nó tạo ra hiện tượng Nghịch Thủy, Sinh Khí sẽ dội ngược trở lại.
Khi phòng khách chật hẹp, cũng không nên làm cửa thông, bởi nó chỉ gây thêm cảm giác tù túng.

Màn cửa

Về màn cửa, hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại, nhiều màu sắc, nhiều chất liệu, nhiều kiểu dáng, thiên hình vạn trạng. Tuy nhiên, khi chọn màn cửa cần lưu ý một số điểm sau:
Nếu cửa sổ nắng nhiều: Nên chọn màn dầy, màu sắc đậm.
Nếu cửa sổ ít nắng: Nên chọn màn mỏng và màu sáng hơn.
Nếu Cửa sổ đối diện Cửa Cái hoặc những Hung Sát bên ngoài, nếu không muốn dùng vật Trấn Yểm thì nên dùng loại cửa lá sách cố định, không mở ra, để che đi.
Tuyệt đối kỵ làm khung cửa Sổ hình chữ nhật rồi, bên trong lại làm cái cửa có hình vòm, hoặc cưa lộng thành hình vòm cho đẹp. Đây là điều ĐẠI KỴ trong kiến trúc CỬA, vì nó là biểu tượng giống như cái Bia mộ của người Trung Hoa.
Về màu sắc, vẫn lấy Màu sắc như của Bệ Cửa sổ làm nền, nhưng thêm các hoa văn, họa tiết cho không nhàm chán, nên chọn sự phối hợp sao cho tươi mắt, không loè loẹt là được

Màu sắc

Trước tiên ta nên chọn vật liệu chịu nhiệt, và không hấp thu nhiệt. Nếu không, để ngoài nắng nó sẽ mau hư, và nó hấp thụ nhiệt và làm cho Phòng khách nóng lên, không tốt. Về màu sắc cũng dùng như màu tường, cùng một nguyên tắc.

Vật trang trí

Khi xây Bệ cửa sổ nên cố định, bằng phẳng, ngay ngắn. Những Bệ Cửa sổ thường là để các vật Trấn Yểm trong Phong Thuỷ, hay nói cách khác, nó như một tuyến phòng thủ của ngôi nhà vậy. Những Vật khí Phong Thuỷ nếu là con vật để trang trí ở đó, không nên xung khắc với tuổi chủ nhà. (ví dụ: Chủ nhà tuổi Tý thì không nên đặt các con vật như: rắn- Tị; dê- Mùi; ngựa- Ngọ; gà- Dậu; mèo, thỏ-Mẹo)
Những tượng con vật người ta hay dùng nhất khi Trấn Yểm ở Bệ Cửa sổ là: Rồng, Sư tử, Kỳ lân, Gà, Voi.... Hay những công cụ Hóa Sát khác như: Chuông gió kỳ lân, Chuông gió Bát Quái, Chuông gió kim loại- gỗ, Hồ lô, các xâu chuỗi Minh Chú, Chén Liên Hoa, Kim Tiền Ngũ Đế, Kim Nguyên Bảo.....vv... Nói chung rất là nhiều, mỗi trường hợp Hung Sát đều có cách hóa giải cả, và mỗi cách dùng vật Trấn Yểm khác nhau, tùy trường hợp mà sử dụng, xin đùng nên đặt bừa bãi sẽ phản tác dụng. Cẩn thận!

Cửa Sổ Phòng Khách


Trong Phong Thuỷ Học, cửa sổ Phòng khách cũng có một vị trí đặc biệt, ảnh hưởng đến tốt xấu của nhà & gia chủ. Nếu quá rộng thì khí sẽ thoát ra nhanh. Nếu quá hẹp thì khí khó thoát, sinh nóng nực, ngột ngạt. Thông thường, Cửa sổ thì có Bệ cửa, người xưa gọi nó là Song Đài, phần này chúng ta nói về nó.

Trần nhà

Người Anh gọi là ceiling, người Trung Hoa gọi nó là Thiên Hoa, người Việt Nam ta gọi đơn giản là trần nhà. Về trần nhà có một số nguyên tắc sau:

1/.Hợp cao, không hợp thấp: Thiên Hoa còn được gọi là Đỉnh Thiên Hoa. Chỉ nội cái tên cũng đủ nói lên yếu tố cần phải cao rồi.
Về mặt tâm lý, vào một cái nhà trần thấp, gây cho người ta cảm giác ngột ngạt, như khó thở hơn, tim đập nhanh; trần nhà cao làm người ta thấy tâm hồn mình khoảng khoát, cởi mở hơn.
Ngày nay, đa số các nhà đều đóng la-phông, không còn để lộ các xà ngang như trước. Tuy nhiên tôi cũng xin ghi ra đây để các anh chị, các bạn làm tài liệu tham khảo thêm. Ngày trước, khi gặp các nhà có Phòng khách bị các xà ngang ở giửa như thế, các nhà Phong Thuỷ khuyên gia chủ làm một cái Giả Thiên Hoa để hóa giải, vừa đẹp vừa hợp Phong Thuỷ. Nghĩa là tại các thanh xà đó, người ta dùng nẹp bọc nó lại, đóng thêm vào cho nó tạo thành hình vuông lõm ở giửa. Nếu từ dưới nhìn lên, ta luôn có cảm giác ngay đó như cao hơn, không còn cảm giác bị đè nặng nữa. Phần lõm đó, Phong Thuỷ gọi đó là Thiên Trì, là ao của Trời, tượng trưng cho Tài lộc của Trời ban cho vậy. Không những thế, các nhà Phong Thuỷ còn khuyên gia chủ thiết kế một hoa văn trang trí ngay giửa Thiên Trì, y như một cái chén vàng ngọc vậy, và xung quanh đó người ta trang trí bằng chùm đèn, và họ đặt cho nó cái tên là... Long Tĩnh! Ý nghĩa Thiên Hoa như có Rồng ẩn nấp, hoặc như có cái chén đựng vàng ngọc.... toàn là ý nghĩa tốt đẹp!
2/.Màu sắc: Luôn luôn là màu sắc nhẹ và sáng hơn nền màu tường, hay sàn nhà. Và đa số người ta chọn màu Trắng tinh khôi, trắng của mây trắng lững lờ trôi.... "Hạc vàng đã tếch nơi đâu? Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay."_ (Thôi Hiệu)
3/.Ánh sáng: Thiên Hoa tượng của Trời cao. Trời mà u ám là báo hiệu mưa gió, bão bùng không tốt. Nên trần nhà tối kỵ sự u ám và đen tối. Nếu một căn nhà tối tăm và u ám thì trần nhà làm sao sáng sủa được? Nhà tối ám sẽ sinh cảm giác ẩm thấp, là nơi sản sinh muỗi mòng, vi trùng.... sẽ sinh ra bệnh tật. Đây cũng là lý do vì sao trong Phong Thuỷ tối kỵ nhà ở u ám, tối tăm. Nên thắp đèn sáng trên trần nhà, cũng như thiết kế sao cho khi vào nhà ban ngày cũng đủ ánh sáng cho trần nhà. Bởi vì điều này, người ta hay dùng màu Trắng cho trần nhà tạo cảm giác sáng sủa hơn.

Thảm trải Phòng Khách

Ngày nay do điều kiện kinh tế thay đổi, nhiều nhà làm ăn khấm khá lên, mua đất cất nhà, và đã mời hẳn Kiến Trúc Sư trang trí nội thất cho mình. Trong điều kiện đó, không ít Kiến Trúc Sư đã bày cho gia chủ trải thảm ở Phòng khách, vừa đẹp vừa sang trọng, quý phái như ở nước ngoài vậy. Hỏi ai không thích nhà mình đẹ, sang?! Và thế là họ trải thảm một cách vô tội vạ. Người may mắn thì gặp Kiến Trúc Sư rành về Phong Thuỷ, người không may thì giao phó cho Kiến Trúc Sư phối màu gì cho... hợpnhãn thì phối (?!). Để giúp các anh chị, các bạn có thêm chút kinh nghiệm khi chọn thảm cho Phòng hách, NCD xin đưa ra một vài điểm sau:
1/.Tránh dùng thảm xanh rì như một đám cỏ: Nhiều người cho rằng Mạng gia chủ màu này là thích hợp, hay màu này là phối hợp với màu tường là đẹp nhất...vv... Tôi không lạm bàn về màu sắc, bởi các Kiến Trúc Sư là chuyên gia vấn đề đó mà; tôi chỉ muốn nói rằng: dù có chọn màu xanh đó cũng không nên giống như một đám cỏ quá.
Trong lĩnh vực Phong Thuỷ dùng để trang trí, đa số là dùng biểu tượng, hình tượng, giống như cái này, giống như cái kia, hay những hình ảnh liên tưởng ra...vv.. Và cái "thảm cỏ xanh rì " kia khiến cho một số người có cảm giác như......1 nấm mồ xanh cỏ (!?). Nghe phi lý quá, nhưng một khi miệng thiên hạ đã cất lên rồi, một đồn mười, chục đồn trăm, thì...không cũng thành có! "Chúng khẩu đồng từ, ông sư cũng chết". Ta nên tránh là hơn.
2/.Đừng nên chọn màu u ám: Nhìn vào một tấm thảm u ám, hay buồn tẻ, nhạt nhẻo khiến cho người ta thấy nhàm chán. Những gam màu này không thu hút khí sinh vượng, không tốt trong Phong Thuỷ. Nên chọn các gam màu sáng, màu tươi vui mắt như hồng, vàng kim....
3/.Tránh chọn chủ đề xấu: Cũng như chọn tranh treo tường, chọn thảm cũng có một số nguyên tắc:
_ Không chọn thảm hoa hoè, nhìn vào gây nhức mắt.
_ Không nên chọn thảm không có gốc. "Vật bất ly kỳ tông" mà, nghĩa là không có nền tảng chung, phải có chủ đề làm nền.
_ Nên chọn thảm có màu sắc, cảnh vật, hình tượng.... ngụ ý tốt lành, sinh vượng. Vừa thích hợp với Phong Thuỷ, vừa có thẩm mỹ; tạo nên tâm lý thoải mái, hưng phấn cho người nhìn là hợp cách.

Bàn trà

Bàn trà là bàn để đặt ấm trà, ly tách uống trà; người ta còn gọi là Kỷ trà. Việc đặt bàn trà theo một số nguyên lý sau:
_ Chủ khách tương hợp: Theo Phong Thuỷ Học, salon là núi, bàn trà là nước hay là bờ cát bãi biển. Vì vậy, salon phải cao hơn bàn trà, tạo ra thế Sơn Thủy hữu tình. Đấy là một trong những cách làm cho chủ khách tương hợp, ăn ý với nhau.
_ Còn một ý tưởng nữa: Salon là chủ, Bàn trà là khách. Để có 1 quan hệ tốt đẹp, tốt nhất là đôi bên tương kính lẫn nhau. Hay nói cách khác: Không để khách lấn chủ, cũng không nên bố trí chủ lấn lướt khách. Đây là một điều rất tế nhị! Nếu chúng ta phải giao tế, tiếp xúc với một người khách rành về Phong Thuỷ, khi nhận thấy chúng ta bố trí salon & bàn trà theo thế chủ lấn khách như vậy, dù chúng ta có thân thiện, hòa nhã cách mấy, có lẽ ông khách ấy cũng thấy gút mắc. Nếu làm ngược lại, chúng ta chịu thiệt thì áp dụng Phong Thuỷ làm gì nữa?!
Salon cao quá là chủ đoạt khách.
Bàn trà quá rộng là khách lấn chủ.
Vậy chắc quý vị cũng biết phải chọn cho nhà mình một bộ salon & bàn trà thế nào cho hợp rồi
_ Khoảng cách: Không nên để salon và bàn trà xa quá hoặc gần quá, đều bất tiện, không hợp với Phong Thuỷ. Núi và nước, Sơn và Thủy là hữu tình nhưng nước sát vách núi là hình tượng xói mòn. Nếu gần quá, cũng tạo cảm giác thúc ép, bực bội. Để xa thì không tiện sử dụng. Thông thường, khoảng cách hợp lý là từ 2,2 tấc đến 2,5 tấc là vừa phải.
_ Hình dạng: Tránh các hình có các góc nhọn, góc cạnh

Cây

Trước đây , khi bàn về cây cối , các nhà PT thường chỉ nói đến khu vực thôn quê, không nói đến thành thị , là vì sao ? Bởi ngày xưa, đô thị là các vùng nằm trong các thành trì , chỉ có các dinh thự các nhà quyền quý, các khuôn viên tôn giáo mới có cây cối ; ngay cả quy hoạch đường sá trong các đô thị xưa cũng đâu có cây cối gì. Còn bên ngoài, đại đa số dân thường làm gì có đất đai dư dả mà bố trí vườn cây. Do đó , các nhà PT khi nói đến cây cối là đa số nói đến vùng thôn quê, nơi người dân sống trong môi trường thiên nhiên cây cối chung quanh. Trong thành thị , các nhà quyền quý bố trí vườn cây trong dinh thự của họ mang ý nghĩa cố gắng tái tạo sự hoàn thiện của thiên nhiên , đưa khung cảnh thiên nhiên đến gần với con người , tạo sự hợp nhất của Trời - Đất - Người.
Ngày nay , trên thế giới người ta còn khuyến khích "trồng cây gây rừng " , " phủ xanh thành phố "..... bởi tác dụng tốt của cây cối đối với con người. Nạn chặt phá rừng tràn lan đã tác động không nhỏ đến môi trường sinh thái, gây lụt lội nhiều nơi. Không có cây che chắn , nhiều vùng bị gió cát không thể canh tác hoa màu. Không có cây xanh ,các thành phố bị ô nhiễm trầm trọng bởi khói xe, khói từ các nhà máy thải ra....Có thể kể ra rất nhiều...rất nhiều những tác hại của việc thiếu cây xanh trong môi trường sống của chúng ta. Còn trong PT , từ hàng ngàn năm trước , người xưa đã biết diệu dụng của cây cối trong việc hóa giải 1 số điều xấu trong môi trường sinh sống. Chẳng hạn , cân bằng 1 hình thể khiếm khuyết của ngôi nhà, che chắn tầm nhìn đến các cảnh quan xấu bên ngoài...vv.. Qua đó ta có thể thấy tầm quan trọng của cây cối trong PT là hợp lý. Theo thuyết của Hoàng Đế Trạch Kinh , coi cây cối cũng như có lông,có áo mặc. Những chỗ rộng rãi mênh mông, nếu không có cây ngăn che chận, thì không có gì che thân thể , thì lấy gì giúp đỡ được. Ở rừng núi gió mạnh , nếu không có cây cối ngăn chận thì không chống được gió lạnh. Ở chỗ thôn xóm , nếu cây cối tốt thì hưng vượng ,cây cối tàn tạ thì suy tàn. Nếu không trồng cây cối,như người cởi trần, như chim không lông , làm sao giữ được ấm lạnh để sống lâu ? Người xưa nói : Trước nhà quang đãng không có gì che chắn , sau nhà cây cối xanh tốt phồn thịnh, 4 mùa rụng lá , ở đó yên ổn & phúc lộc lâu dài. Lời nói đó không sai ! vì cây cối tốt tươi là thịnh vượng , là nói lên vùng đất đó màu mỡ, mà như vậy thì dễ giúp cho vùng đó trù phú lên. Đó chính là vùng đất có ĐỊA MẠCH tốt , cách cục đạt giàu sang.

_ Nếu phía Đông trồng cây đào,cây dương liễu ; phía Nam trồng cây mai,táo ; phía Tây trồng cây sơn chi, cây dâu ; phía Bắc trồng cây mận,cây mơ thì rất tốt, rất có lợi.
Nếu trồng hạnh bên Đông, đào bên Tây, táo bên Bắc, mận bên Nam là trái ngược, là sinh chuyện tà dâm.

Hình sắc khí của cây cũng cảm ứng rất quan hệ đến họa phúc. Vì vậy , cây trồng phải cẩn thận. Khi thấy cây ở khu vực nào héo úa, vàng lá tức là vùng Khí ở đó có vấn đề, chúng ta phải tìm xem có gì khác lạ từ môi trường bên ngoài tác động không? hay vùng Khí nơi đó Âm Dương không hài hòa , ta phải cân bắng nó lại....

_ Cây cối có vẻ bao bọc lấy nhà thì thanh nhàn hưởng phúc.
Bụi trúc quanh co , trong nhà giàu có.
Một dãy cây sum suê trước cửa ( nhưng không che ánh sáng ) sẽ tốt cho con cháu.
Cây trước nhà có nhiều tàng ngang bằng như cái lọng thì người trong nhà sớm đỗ đạt.
Cây mọc bên hông nhưng thế ôm lấy nhà , giàu có lâu dài.
Cây bên tả uốn khúc ôm lấy nhà, giàu có công danh.
Nhiều cây sau nhà, giàu có thông minh.
Cây 4 bên nhà bằng nhau , có nhiều ruộng mọi nơi.
Cây xanh tàn rộng, con trưởng giàu có.

_ Cây trồng theo các hướng sau đây sẽ được phúc lộc lâu dài
Cây dâu ở phương Nhâm-Tý-Quý-Sửu
Cây Tòng Bách ở phương Dần-Giáp-Mẹo-Ất
Cây dương liễu ở phương Bính-Ngọ-Đinh-Mùi
Cây thạch lựu ở phương Thân-Canh-Dậu-Tân
Rừng lớn ở phương Thìn-Tốn-Tị
Rừng trung bình ở phương Tuất-Càn-Hợi
Hoặc cây liễu ở phương Đông, táo ở phương Nam,cây dâu ở phương Tây Nam

_ Trước cửa có cây Đào, Lý thì ham mê tửu sắc !
_ Đối diện với cửa có cây Dương liễu rũ như xỏa tóc treo đầu , trong nhà có người thắt cổ.
_ Trước cửa có cây hình dung cổ quái, nếu nhỏ thì trong nhà có người tự tử ở sông , giếng; nếu lớn thì bị bệnh tỳ khí không thông , thanh danh bại hoại.
_ Trước cửa chỉ có 1 cây trơ trọi , trong nhà toàn góa bụa , ít con cháu.
_ Cành cây đâm xéo vào cửa , sẽ có tang tóc.
_ Gốc cây bị thủng rễ trước cửa , bị điếc, mê muội.
_ Cây trước cửa gù cong như lưng lạc đà , đinh tài đều kém.
_ Cây khô trước cửa , hỏa tai; chồng chết; mất của , chết đường.
_ Cây khô trên nóc sẽ có quả phụ.
_ Trước cửa có cây cành dây leo rối rít , bị thắt cổ treo lên hoặc lật thuyền.
_ Trước cửa có cây mọc rũ xuống nước , trong nhà có người chết đuối.
_ Cạnh bên phải nhà có cây hoa màu đỏ , thất bại vì nhan sắc.
_ Trong vườn nếu trồng thông chỉ trồng thông nhỏ, nếu là thông lớn làm ăn không khá.
_ Hai cây áp sát 2 bên nhà , sẽ bị tang anh em.
_ Bên phải nhà có cây , có hoa màu trắng , con cháu lêu bêu.

_ TUYỆT ĐỐI TRÁNH TRỒNG CÂY Ở GÓC TÂY NAM NHÀ ! Bởi góc Tây Nam nhà là thuộc cung Tình Duyên_Hôn Nhân, thuộc Thổ ; nếu trồng cây tại đây, cây thuộc MỘC , mà MỘC khắc THỔ , sẽ bất lợi cho Hạnh phúc vợ chồng. Hãy cẩn thận ! cẩn thận !

Khai Quang Điểm Nhãn cho vật phẩm phong thuỷ

dùng 2 chữ Phạn "ÁN LAM" thay cho Phù, và đọc bài Chú Khai Tượng:
"Khai Thủ năng khai thông
Nhãn nhãn năng thông khai
Túc túc năng hành khai
Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận vi Ngũ quan
Nam-mô Quan Chủ Lịch Thế Âm Bồ Tát Ma-ha-Tát (3 lan)"
Tượng Thổ Địa- Tài Thần, thì mình họa thêm Phù chữ THÂU; các Vật Khí Hóa Sát, Vật Khí Hóa Phi Tinh..thì mình họa thêm Phù chữ GIẢI nữa, để tăng thêm Công Hiệu cho nó.
Dù các bạn chọn cách Khai Quang, Điểm Nhãn thế nào, mình chỉ xin phép nhắc các bạn 1 điều rất quan trọng: khi làm cho các Tượng Thần, Thánh, Phật TUYỆT ĐỐI KHÔNG ĐƯỢC Họa Phù thẳng vào Tượng, mà phải dùng 1 cái Gương soi, chiếu vào Tượng, và Họa Phù ở HÌNH PHẢN CHIẾU TRÊN GƯƠNG mà thôi. Cẩn thận!! Cẩn thận!! 

Vật phẩm chiêu tài trong phong thuỷ

CÁC VẬT HOÁ SÁT THƯỜNG GẶP

1/ Tiền Áp Tuế ( còn gọi là Tiền Thái tuế )
Đây là đồng tiền xưa bằng đồng , ngoài tròn tượng trưng cho trời , giửa có lỗ vuông nhỏ tượng trưng cho đất , một mặt có in hình Bát Quái , một mặt có in hình Thập Nhị Địa Chi.
Thường dùng để Hoá giải cho những ai có hướng nhà phạm Thái Thuế hay Tuế Phá , hoặc tuổi mình năm đó phạm Thái Tuế hay Tuế Phá.
Cách dùng : Lấy dây ruy băng đỏ hay chỉ đỏ cột và treo ở vị trí mình thường thấy , hoặc bỏ trong bóp-ví , hoặc treo trước cửa cái. Đừng ngại dây đỏ là Hoả khắc Kim , vì màu đỏ là tượng trưng cho năng lượng Dương mạnh nhất trong các màu , nên nó sẽ kích hoạt tính Dương cho Vật khí PT rất hiệu nghiệm.

2/ Kỳ Lân
Về Kỳ Lân mình cũng đã nói nhiều rồi , nên nay chỉ nói sơ qua.
Thời xưa , Kỳ Lân được coi là một trong Tứ Linh : Long , Lân , Quy , Phụng. Nó tác dụng Chiêu Tài , Nạp Khí lẫn Hoá Sát , công dụng rất rộng
Những trường hợp Hoá Sát thường dùng Kỳ Lân như : Thương Sát hơi lớn như đại lộ , Bạch Hổ Sát , Thiên Trảm Sát lớn như khe hở giửa 2 toà nhà cao tầng đối diện , Hoạch Hình Sát.
Còn 1 loại Kỳ Lân có phía trên lưng giở lên được, chuyên dùng bỏ trong két sắt để Thâu Hút Tài Lộc.

3/Ngựa đồng :
Con vật này cũng quá quen thuộc nên có lẽ mình cũng không cần mô tả nó ra làm gì rồi.
Tính chất của ngựa là bôn ba đây đó , chủ động. Vì vậy khi dùng để kích hoạt thì thích hợp với những người làm nghề đi đây đó nhiều ( người tuổi Tý không nên dùng ) , hoặc chuyển đổi chỗ làm ( trường hợp này thường dùng Phi Mã-ngựa có 2 cánh 2 bên thân- hiệu lực sẽ nhanh hơn ).
Ngoài ra, Ngựa còn được dùng trong Phong Thủy với tác dụng kích hoạt việc bán nhà nhanh.
Khi Hoá Sát thì nó thường dùng cho các trường hợp : Liêm Đao Sát , Thiên Trảm Sát.

4/Hồ lô đồng :
Nói tới hồ lô chắc ai cũng biết hình dáng các bầu hồ lô trong các... phim Tuý Quyền , nhưng hồ lô cũng là bầu đựng thuốc của Thái Thượng Lão Quân. Cho nên , công dụng đầu tiên của nó chính là Hoá giải bệnh tật.
Các trường hợp Hoá Sát thường dùng Hồ lô đồng là : Cô Phong Sát , Xuyên Tâm Sát , Thanh Sát.
Ngoài ra , Hồ Lô đồng còn có 1 công dụng mà ít ai để ý đó là giúp tình cảm vợ chồng đằm thắm thêm.
Khi Hồ Lô đồng kết hợp với tiền đồng Chiêu Tài Tiến Bảo, gọi là Hồ Lô Vận Tài sẽ có công năng như 1 Hồ Lô thâu hút Tài Lộc.

5/Hồ Lô gỗ :
Hồ Lô đồng công dụng khác , Hồ Lô gỗ công dụng khác.
Ngoài khả năng Hoá giải tật bệnh ra , nó còn thường được dùng để Hoá Sát : Độc Âm Sát , Cô Dương Sát.
Khi nhà có người bệnh lâu ngày , thì Hồ Lô gỗ có hiệu lực mạnh hơn Hồ Lô đồng , nhưng phải treo 3 cái.

6/ Minh Chú Hồ Lô :
Hồ Lô thì ta đã biết , còn Minh chú chính là Lục Tự Đại Minh Chú " Om Mani Pad Me Hum " được khắc trên thân Hồ Lô hoặc khắc trên 1 miếng Mạn Đà La treo chung với Hồ Lô. Nó có nhiều chất liệu , nhưng loại tốt nhất chính là Lục Ngọc , kế đến là bằng Bạch Ngọc , rồi đến Thạch Anh. Do Hồ Lô lẫn Lục Ngọc đều có công năng trừ bách bệnh , nên tính năng đầu tiên của nó là dùng cho những trường hợp bệnh lâu năm không khỏi , nhất là có người già trong nhà thì treo nó trong phòng rất tốt cho sức khoẻ.
Minh Chú Hồ Lô có công năng Hoá Sát rất mạnh , nó thường được dùng trong các trường hợp : Phản Quang Sát , Cô Phong sát , Bạch Hổ Sát , Pháo Đài Sát , Khai Khẩu Sát , Cô Dương sát , Độc Âm Sát , Thích Diện Sát , Đỉnh Tâm Sát.
Và thường những trường hợp các Hình Sát này mạnh mới cần sự hỗ trợ của Minh Chú Hồ Lô , bởi những Hình Sát mạnh thì vật chuyên Hoá sát nó cũng không đủ lực nếu chỉ đặt 1 mình.

7/. NGŨ ĐẾ MINH CHÚ :
Tiền cổ Ngũ Đế thì ai cũng biết , Minh Chú cũng là Lục Tự Đại Minh Chú. Khi 2 vật này đi kèm chung với nhau thì công năng Hoá Sát của nó cũng rất hay. Thường thì Minh Chú trong trường hợp này được khắc trên Bạch Ngọc.
Những người làm nghề chính đáng mà gặp rắc rối với pháp luật mãi thì có thể treo nó ở cửa sau nhà, hoặc nơi làm việc có thể yên ngay.
Những nhà mà suy khí không tan dù đã tẩy uế trược nhiều lần, tác động PT vẫn vậy thì có thể treo nó để hoá giải.
Ngoài ra, nó còn được dùng trong các trường hợp Hình Sát : Phản Quang Sát mạnh, Liêm Đao Sát, Bạch Hổ Sát nhẹ, Xuyên Tâm Sát, Cân Trời Xung Xạ Sát, Liêm Trinh Sát, Đỉnh Tâm Sát.

8/. LONG QUY :
Đây là 1 loại Linh Thú ghép từ Long và Quy trong Tứ Linh, có hình dáng 1 con Rùa với đầu Rồng. Nó mang tính dũng mãnh của Rồng, và tính chịu đựng bền bĩ của Rùa, hơn nữa cả 2 loại Linh thú này đều hợp với Thuỷ, nên tính nó cũng hợp Thuỷ. Đây là Vật Hoá Sát chuyên trị...Đại Hung Tinh Tam Sát. Người xưa nói muốn nhanh phát phải đấu Tam Sát, ngoài việc dùng năm tháng ngày giờ đấu Tam Sát còn có ý nghĩa này, dùng vật trấn để xây dựng nơi phạm Tam Sát.
Còn 1 loại Long Quy nữa chuyên dùng để kích hoạt Tài Lộc đó là Long Quy với phần mu rùa bên trên giở ra được. Loại này chuyên dùng bỏ trong két sắt, tủ tiền để Thâu Hút Tài Lộc.

9/. CHUÔNG GIÓ KỲ LÂN :
Là 1 loại chuông gió để bàn, tủ không phải loại chuông gió treo. Nó có 1 chân đế tròn với những thanh đồng xuống, thanh đồng ở giửa để chạm vào phát ra tiếng leng keng có hình 1 con Kỳ Lân hay Tỳ Hưu ở giửa, nhưng thường thì người ta làm Kỳ Lân nên mới gọi là Chuông gió Kỳ Lân. Do có nhiều nơi có địa thế, hình thù đặc trưng không thể treo chuông gió người ta mới dùng loại này, ngoài những tính năng thông thường của Chuông gió ra, nó còn có Lực Hoá Sát khá mạnh, và tác dụng Chiêu Tài.
Nếu là Thương Sát mà dùng nó thì nên đặt ở góc trái phía trên cửa; 2 cửa sổ đối diện nhau mà nhà kia đông người hơn, người ta cũng dùng nó để chận Tài Khí không trôi sang nhà kia.
Những Hình Sát mà nó hoá giải là : Thương Sát, Pháo Đài Sát.

10/. TIỀN MAI HOA :
Đây là đồng tiền có 5 cánh trồi ra ngoài giống hệt như 1 đoá hoa mai nở rộ. Công dụng của nó chỉ chuyên dùng : ngừa kẻ tiểu nhân và Thăng quan tiến chức.

11/. BÁT QUÁI ĐẠI VƯƠNG MINH CHÚ :
Đây là sự tổng hợp của 2 loại Bát Quái và Đại Vương Minh Chú, công năng Hoá Sát của nó có thể nói là chuyên dùng cho những Hình Sát mạnh, khó trị. Bởi ngoài tính năng Bát Quái ra, nó còn được kết hợp thêm uy lực của Đại Vương Minh Chú của Phật Pháp.
Có 2 loại : Hậu Thiên và Tiên Thiên. Loại Hậu Thiên dùng cho nhà nào vừa có Hình Sát vừa muốn chuyển hướng. Loại Tiên Thiên chỉ chuyên dùng Hoá Sát.
Gần như những Hình Sát lớn, ngoài vật chuyên trị theo cách thông thường ra, nếu kết hợp với nó thì uy lực tăng lên không thể nghĩ bàn vậy.

12/. CHUÔNG LA BÀN BÁT QUÁI :
Là loại chuông treo có in hình Bát Quái bên thân, nó không giống hình dạng như chuông gió ta thường thấy, mà có hình dạng y như các quả chuông của các nhà thờ với 1 hình khối trụ chụp xuống và 1 thanh giửa có gắn quả bi tròn, khi có gió lắc nó sẽ chạm vào bên trong thành chuông, làm phát tán năng lượng Bát Quái bên ngoài.
Công năng Hoá Sát của nó mạnh hơn bất kỳ con thú nào. Nhưng nếu là chuông nhỏ thì không đủ lực hoá giải Hình Sát lớn.
Thường thì đi kèm với Chuông La Bàn Bát Quái là bên thành chuông có khắc hình tượng Quán Thế Âm Bồ Tát hay là bài Đại Bi Chú.

13/.KIM NGUYÊN BẢO :
Nghe tên thì thấy lạ nhưng thực ra nó là loại các thỏi vàng mà người ta thường bày trong trang thờ Thần Tài Thổ Địa. Công dụng chính của nó là để Sinh tài, Vượng tài.
Ngoài ra nó còn dùng để Hóa giải chỗ ngồi, chỗ nằm vì lý do không thể xoay trở khác được, mà phải hướng lưng, đầu ra cửa sổ.

14/.TIỀN CỔ LỤC ĐẾ:
Là loại tiền giả cổ ngoài tròn giửa có lỗ vuông, thuộc năm triểu đại thịnh vường của nhà Thanh: Thuận Trị, Khang Hy, Ung Chính, Càn Long, Gia Khánh, Đạo Quang. Nhiều nơi bày bán vật này hay có lối nói tiền cổ, và...chém đẹp, nhưng thực ra tiền cổ thật không có công năng mạnh bằng tiền thật.
Những người đó họ dùng chiêu bài" tiền cổ là loại tiền lưu hành thời đó, đã qua tay nhiều người sử dụng nên tốt, vì có Tài Khí". Đó chỉ là cách nói bao biện, không hợp với lý của Phong Thủy, bởi chúng ta là người sống, cần là cần những năng lượng Dương tích cực, cần chi năng lượng Âm đó. Tiền càng mới càng có hiệu quả cao!! Chính vì vậy những đồng tiền này luôn được xỏ dây đỏ, dùng năng lượng Dương của màu đỏ để kích hoạt thêm tính Dương của các đồng tiền vậy.
Trong Phong Thủy, Tiền Lục Đế thường được dùng để Hóa Sát trong các trường hợp: Phản Quang Sát, Liêm Đao Sát, Bạch Hổ Sát, Thiên Trảm Sát, Xuyên Tâm Sát, Pháo Đài Sát, Khai Khẩu Sát, Cân Trời Xung Xạ Sát, Phản Cung Sát, Liêm Trinh Sát, Đỉnh Tâm Sát. Trong Phong Thủy Huyền Không thì Tiền Lục Đế thường dùng để Hóa Giải các sao Ngũ Hoàng, Nhị Hắc.

15/.MINH CHÚ QUAN ÂM:
Đức Quán Thế Âm thì cũng biết Ngài là bậc Đại Từ, Đại Bi chuyên cứu giúp nạn tai, tật khổ. Còn Lục Tự Đại Minh Chú của Ngài có thể hàng yêu phục ma, giải trừ xui rủi. Cho nên cả hai kết hợp lại là vật Hộ Thân, Giử Thân, giảm tai họa đến nhà, thúc đẩy tài vận và giữ bình an.
Công cụ này thường dùng cho người làm việc ở nơi vui nhộn, hay ở nơi công việc phức tạp, và thích hợp nhất với nữ giới. Do có hình tượng Quán Thế Âm nên thường mang tính giống vật trang sức đeo bên người, sẽ không có cảm giác đeo vật Phong Thủy 1 cách lộ liễu như các vật khác.

16/. KỲ HƯU (còn gọi là Tỳ Hưu) :
Đây là 1 loại thú trong thời Thượng Cổ. Có 2 loại : Kỳ Hưu thì có 1 sừng chuyên Chiêu Tài, Nạp Bảo. Còn Tịch Tà thì có 2 sừng chuyên Trấn Trạch. Hình dáng bên ngoài chúng thì giống nhau cả, duy chỉ khác con 1 sừng, con 2 sừng thôi.
Với Kỳ Hưu thì những ai có thu nhập xốc nổi, hay kiếm tiền bằng mẹo vặt thì rất thích hợp đặt nó.

17/. GƯƠNG BÁT QUÁI:
Gương Bát Quái có rất nhiều loại : Gương Bát Quái phẳng, gương Bát Quái lồi, gương bát Quái lõm, những loại này thường bằng gỗ và kiếng. Gương Bát Quái Hổ phù, gương Bát Quái Trấn Trạch, gương Bát Quái Chuẩn Đề, gương Bát Quái Đại Đế, những loại này bằng đồng.
_ Gương Bát Quái phẳng và lồi thường dùng để Hóa Giải các trường hợp Thương Sát, Hỏa Hình Sát, Đỉnh Tâm Sát, Tam Xoa Sát. Nhưng tùy trường hợp mà sử dụng loại nào (vì Hình Sát nhỏ không nên dùng gương Bát Quái lồi) và thêm những công cụ khác trên gương.
_ Gương Bát Quái lõm thường dùng để Hóa Giải các trường hợp cầu thang đổ ra đường, nhà nhìn từ cửa trước thông thẳng ra cửa sau. Và gương Bát Quái lõm là loại có thể treo trong nhà.
_ Gương Bát Quái Hổ phù thường dùng để Hóa Giải Ngũ Hoàng Sát, Tam Xoa Sát, Thương sát, Đỉnh Tâm Sát, Thích Diện Sát.
_ Gương Bát Quái Trấn Trạch là loại gương Bát Quái đồng, 1 mặt có in hình Bát Quái, mặt kia là 1 Phù Trấn Trạch với 2 thanh thư hùng Thất Tinh Kiếm. Ngoài các công năng Hóa Giải như gương Bát Quái thường ra, nó thường dùng cho trường hợp nhà đối diện các nhà tang lễ, trại giam, bệnh viện, nghĩa trang...nói chung là những nơi có sự chết chóc.
_ Gương Bát Quái Chuẩn Đề là loại gương Bát Quái đồng, 1 mặt in hình Phật Chuẩn Đề với 18 tay cầm 18 món Pháp khí, mặt kia là vòng tròn Bát Quái cộng với bài chú Chuẩn Đề. Đây đúng ra là Pháp Khí Hóa Giải của Phong Thủy Mật Tông Tây Tạng, công năng của nó rất mạnh. Ngoài những tính năng đặc biệt như gương Bát Quái Trấn Trạch ở trên, nó còn dùng cho trường hợp nhà ở mà trước đây chủ trước xài Lỗ Ban nuôi "binh", hoặc nhà có Âm binh khuấy phá. Đây là loại gương Bát Quái đồng có thể treo trong nhà.
_ Gương Bát Quái Đại Đế là loại gương Bát Quái đồng, 1 mặt có in hình Vô Cực Đại Thiên Tôn (chính là Ngọc Hoàng Đại Đế) với Phù Trấn Trạch, mặt kia in hình Bát Quái. Gương này ngoài những công năng đặc biệt bên trên của các gương kia còn có sức Hóa Giải các hình tượng Thập Tự Giá khổng lồ đối diện nhà, các nhà đối diện treo gương có hình Tử Vi Đại Đế cưỡi trên Kỳ Lân cầm gương Bát Quái chiếu sang nhà mình.
Guơng Bát Quái thường có 2 loại Tiên Thiên và Hậu Thiên. Hóa Sát dùng Tiên Thiên, Xoay chuyển hướng dùng Hậu Thiên.

18/.VẬN TÀI ĐỒNG TỬ :
Theo truyền thuyết, Vận Tài Đồng Tử chính là Thiện Tài Đồng Tử bên cạnh Quán Thế Âm Bồ Tát, chuyên biến hiện ra rất nhiều tiền bạc, của cải giúp đỡ cho người nghèo. Nên sau này người ta dùng hình tượng của Thiện Tài Đồng Tử như 1 vị Thần chuyên đem Tài Lộc đến, thành thử mới có tên Vận Tài là vậy.
Vận Tài Đồng Tử trong Phong Thủy có nhiều hình dạng khác nhau : tượng 1 đồng tử gánh 2 gánh vàng, tượng 2 đồng tử đang đẩy xe vàng(cái này có nơi còn gọi là Thôi Xa Tiến Bảo), tượng 2 đồng tử đang quay cối xay...tiền, tượng đồng tử đạp trên lưng con sư tử tay cầm Hốt Như Ý...v..v..rất nhiều. Nhưng tựu trung tất cả đều giống như nhau, với mục đích chính là Chiêu Tài Tiến Bảo.
Ngoài ra, Vận Tài Đồng Tử còn dùng trong 1 vài trường hợp Hóa Sát (thường nó đi kèm với thứ khác) như: Phản Cung Sát, Pháo Đài Sát.
Đặc biệt, Vận Tài Đồng Tử rất thích hợp với nhà toàn nam giới chưa kết hôn.

19/.MÃ THƯỢNG PHONG HẦU:
Vật khí này có thể là 1 bức tranh (hơi bị...khó kiếm), nhưng thường là tượng bằng đồng, hoặc là miếng ngọc bội. Với câu chữ hiểu theo nghĩa đen là "con khỉ cưỡi trên con ngựa" nên nó cũng mang hình dáng như vậy. Nhưng thực ra đây là cách chơi chữ của người Hoa, vì 2 chữ Mã Thượng (mă shang) đi chung với nhau được hiểu là "lập tức"; còn Phong Hầu chính là phong quan tấn tước ( Hầu là 1 tước vị rất lớn ngày xưa) ; cho nên ghép lại chính là : đặt vật này sẽ được "lập tức thăng quan". Nói như thế chắc các bạn đã biết công dụng của Vật Khí này để làm gì rồi đấy, nó rất thích hợp cho người làm nhân viên nhà nước.

20/.THÁI SƠN THẠCH CẢM ĐƯƠNG :
Đây là Vật Hóa Sát khá phổ biến trong Phong Thủy, nhất là ngoài miền Bắc. Theo truyền thuyết thì ngày xưa ở núi Thái có 1 vị đạo sĩ tên Thạch Cảm Đương, ông nhờ tài giỏi đã đánh đuổi được yêu quái chuyên quấy nhiễu các khuê nữ, nên người ta mới dùng tên ông khắc vào đá để trấn yêu, trừ tà.
Vật khí này thường có những dạng: 1 miếng đống khắc 5 chữ đó và thêm 1 đầu Hổ(thường thấy nhất là dạng trên gương Bát Quái đồng), 1 con Long Quy chở trên lưng tấm bia khắc 5 chữ này, 2 con Kỳ Lân ngồi trấn 2 bên bảo vệ 1 tấm bia khắc 5 chữ này( thường thấy nhất).
Ngoài việc trừ tà ma vào nhà khuấy phá, Vật Khí này còn được dùng để trấn Thương Sát lớn(giống như đồ vật chưng trên tủ hướng ra cửa, không phải treo Bát Quái, cho những ai ngại treo Bát Quái), Thiên Kiều Sát.

21/.CÓC 3 CHÂN VÀ LƯU HẢI TIÊN NHÂN :
Theo truyền thuyết đây là 1 con yêu quái, được Tiên nhân Lưu Hải thâu dụng, và ông cũng được liệt vào trong 1 số các vị Tiên mang tài lộc đến cho dân gian. Thường thấy nhất là hình tượng cóc 3 chân dẫm lên trên các đồng tiền, cũng có loại cóc 3 chân ngồi trên 1 đế Bát Quái có tấm liễn Tài Nguyên Quảng Tấn phía trước, có loại bằng bột đá, có loại bằng đồng. Nhưng bằng đồng là hay nhất, vì khi đặt nó ở Tài Vị sẽ thích hơn.
Bởi trong trang thờ Thần Tài Thổ Địa thường phải đầy đủ Ngũ Hành, mà cóc 3 chân bằng đồng là mang hành Kim rồi.
Lưu Hải Tiên Nhân là vị tiên thu phục cóc 3 chân. Hình tượng của ông là 1 vị Tiên 1 tay cầm sợi dây trói con cóc 3 chân, mà dây này đầu kia là 1 xâu tiền. Còn 1 hình tượng khác của ông là cầm Pháp khí, dùng để trừ tà, nhưng sau lưng ông cũng có 1 xâu tiền hàm ý Chiêu Tài.
Cóc 3 chân và tượng Lưu Hải Tiên Nhân thường đặt ở phương Tài Vị trong nhà. Cóc 3 chân còn thường được đặt trong trang thờ Thần Tài Thổ Địa với mặt cóc quay vào, nhớ đừng nghe người ta bày "ban ngày quay ra, tối quay vào" là không đúng đâu. Ngoài ra, cóc 3 chân còn được đặt ở cá góc xó trong nhà, vì bản chất của cóc thích ở các góc là 1, ở các xó góc trong nhà(đầu quay vào) còn mang hàm ý cóc đem của cải vào giấu trong nhà mình là 2.

22/.THUYỀN CHỞ VÀNG:
Đây là lấy ý, dùng hình tượng mà Tác động, kích hoạt Tài lộc trong nhà, và tốt nhất là với cá cơ sở kinh doanh, làm ăn mua bán. Đó là 1 chiếc thuyền buồm trên chất đầy thỏi vàng, để quay mũi tàu vào nhà, trên cánh buồm viết 4 chữ Nhất Phàm Phong Thuận(1 chiếc thuyền buồm thuận gió) hay 4 chữ Tiền Trình Dĩ Cẩm(tương lai đẹp như gấm). Có thể là loại thuyền buồm bằng gỗ, có thể là loại bằng đồng. Nhưng nếu mua dạng thuyền gỗ theo kiểu thuyền buôn cổ Trung Hoa mới đúng là 1, trên thuyền không có các khẩu thần công, vì để quay mủi tàu vào có nó thụt cho mà chít.
Vật này mang hàm ý như có 1 chiếc tàu chở đầy vàng chạy vào nhà, vào nơi làm ăn của mình, đem lại lợi lộc, của cải.

23/. THỦY TINH CẦU :
Thủy tinh cầu_ Thạch Anh cầu trước đây vốn dĩ là 1 loại chuyên dùng cho các vị tu theo phái Mật Tông Tây Tạng, dùng để trợ cho các vị ấy pháp tu viên mãn. Nó có hình dạng 1 quả cầu tròn, có thể làm bằng Pha Lê, có thể làm bằng Thạch Anh.Trong Phong Thủy, Thủy tinh cầu_ Thạch Anh cầu dùng để tăng cường năng lượng. Cần tìm phương vị tốt thích hợp mà đặt nó, vì nếu đặt vào nơi xấu nó cũng sẽ thúc đẩy cái xấu luôn. Các quả Thủy tinh cầu năng lượng phát ra không bằng Thạch Anh cầu, và trong các loại thì Thạch Anh Tím phát ra năng lượng mạnh nhất.

24/. NIÊN NIÊN HỮU DƯ
Đây là bức tranh vẽ hình cá (thường là 8 con đỏ và 1 con đen) và hoa sen, trên viết 4 chữ Niên Niên Hữu Thực. Nhiều người giải thích cho rằng hoa sen (liên) hàm ý liên tục, cá là biểu tượng tài lộc trong PT, và gán ghép thành ý "tài lộc liên tục".
Nhưng thực ra đây là câu thành ngữ xuất phát từ vùng núi Trung Quốc. Vốn dĩ ngày xưa vùng núi không gần sông biển, nên cá rất mắc, chỉ những nhà giàu có mới có tiền ăn. Cho nên người ta vẽ tranh cá và đề trên đó 4 chữ Niên Niên Hữu Thực (hàm ý "năm năm đều có cá mà ăn", ngụ ý ước mơ được giàu có) mà cầu mong được Dư dả để có cá ăn quanh năm suốt tháng. Lâu dần nó trở thành biểu tượng Phong Thủy. Và hoa sen chính là cái vẽ thêm sau này, vì hoa sen có lá thuộc dạng hình phễu, là 1 loại hút sóng rất mạnh, thêm vào để Thu Hút sự mong cầu của mình đến nhanh. Ngoài ra, sen còn là biểu tượng của sự an lành.
Cho nên tranh Niên Niên Hữu Dư là biểu tượng để kích hoạt Tài Lộc trong Phong Thủy.

25/. TRÚC BÁO BÌNH AN
Bình trong Phong Thủy là biểu tượng của Bình An. Cho nên nếu các bạn xem phim Trung Quốc luôn thấy người ta chưng rất nhiều bình trong nhà là vậy.
Trúc vừa tượng trưng cho người quân tử, vừa là biểu tượng, Bình An, Thịnh Vượng. Nên ngày xưa người ta hay trồng trúc quanh nhà là thế, vừa lấy bóng mát, giữ đất, vừa mong cầu bình an, sung túc.
Trúc Báo Bình An chính là dùng 1 cái bình đẹp cắm biểu tượng cây trúc vào đó. Đây là biểu tượng của Bình An và Thịnh Vượng.

26/. LONG MÃ
Đây cũng là 1 loại thú ghép giửa Long và Mã (rồng và ngựa). Long có tính biến hóa, uyển chuyển; Mã có tính dũng mãnh, khôn ngoan; nên Long Mã là sự kết hợp tuyệt vời. Nó thích hợp với những người làm cơ quan nhà nước, ở vai trò lãnh đạo. Trong Phong Thủy, Long Mã ngoài việc dùng tạo uy quyền cho lãnh đạo, còn chuyên hóa giải Tam Sát như Long Quy. Long Quy thì mang tính chịu đựng, còn Long Mã mang tính đấu tranh.

27/. HỒ LÔ BÁT TIÊN
Là hồ lô đồng có hình tượng Bát Tiên xung quanh thân hồ lô _mỗi vị cầm 1 món binh khí của mình.
Bát Tiên là 8 vị Tiên trong truyền thuyết Trung Quốc (Hà Tiên Cô, Lam Thái Hòa, Trương Quả Lão, Hớn Chung Ly, Lý Thiết Quài, Lã Đồng Tân, Tào Quốc Cữu, Hàn Tương Tử), tài phép vô song, chuyên Trảm yêu Trừ ma, tạo phúc bá tánh. Trong Phong Thủy, 8 vị Bát Tiên này tượng trưng cho sự trấn giữ 8 hướng, cho nên bày trí Bát Tiên trong nhà dù dưới hình thức nào (tranh, tượng, hồ lô Bát Tiên, dĩa Bát Tiên...) cũng mang lại sự tốt lành cả.
Hồ lô có tính Hút, nên việc dùng Hồ lô để Hóa Giải hay kích hoạt cũng dùng tính năng này.
Hồ lô Bát Tiên là loại Pháp Khí của Mật Tông Tây Tạng cũng lợi dụng tính năng hút này, nó có công dụng kích hoạt Vượng Khí rất tốt, và công năng trừ tà mạnh nhờ vào hình tượng Bát Tiên. Cho nên việc đặt Hồ lô Bát Tiên phải tìm vị trí Vượng Khí thích hợp để đặt nó, không thể đặt bừa được.

28/. KIM THIỀN-NGỌC THIỀN
Chữ Thiền này là chữ Thiền trong bộ Trùng của chữ Hán, có ý nghĩa là con ve. Vậy Kim Thiền là biểu tượng con ve bằng đồng, còn Ngọc Thiền là biểu tượng con ve bằng ngọc vậy.
Ve phát ra âm thanh rất lớn, và liên miên, nên ve cũng là biểu tượng của sự Miên Miên Bất Tận.
Công dụng của việc đặt Ve là giúp trẻ tiến bộ trong học tập, không ngừng phấn đấu, luôn giành vị trí cao trong trường lớp. Với các bé có thể tìm Ngọc Thiền cho các cháu đeo, có thể giúp các cháu trở nên siêng năng cần mẫn, và có chí hướng hơn.

29/. VOI ĐỒNG
Nói về Voi đồng mình đã từng nói trong phần Phong Thủy Học, nay xin nhắc lại trong Chuyên Mục này cho các bạn tiện việc theo dõi.
Voi rất giỏi hút nước, mà nước (Thủy) là tiền tài, nên công dụng đầu tiên của Voi chính là Hút tài lộc.
Voi cũng là con vật chuyên chở nặng, nên người ta lợi dụng tính năng này của Voi để chống đỡ các áp lực nặng trong Phong Thủy.
Ngoài ra Voi Đồng còn dùng để Hóa Giải các Hình Sát : Thiên Kiều Sát, Thích Diện Sát.
Voi Đồng có nhiều dạng : có khi chỉ là cặp voi bằng đồng bình thường, có khi Voi đồng chở trên lưng 1 chú Cóc 3 Chân, có khi Voi chở trên lưng là 1 cái đấu (giống cái đấu đựng cống phẩm ngày xưa), có khi Voi chở trên lưng là 1 cái Hốt Như Ý....vv... Nhưng tựu trung nếu kích hoạt Tài Lộc thì dạng nào cũng như nhau cả.

30/. HỐT NHƯ Ý
Cái này mình không biết diễn tả hình dáng ra sao, nhưng nếu các bạn để ý trong bộ tượng Tam Đa (Phúc Lộc Thọ), tượng Ông Phúc trên tay có cầm cái Hốt Như ý này. Ý nghĩa của nó thì như tên gọi, thỏa mãn ước nguyện và việc gì cũng như ý. Hốt Như Ý có thể làm bằng nhiều hình tượng khác nhau, nhưng nếu làm rời 1 mình nó thì thường làm bằng chất liệu ngọc, đá Thạch Anh
Khi đứng riêng 1 mình nó thì người ta có thể chưng riêng nó trên 1 cái giá đỡ để nằm ngang, hoặc bỏ nó vào trong cái bình thiệt đẹp, khi này nó sẽ là biểu tượng Bình An Như Ý.
Thường thấy nhất là biểu tượng Hốt Như Ý đi kèm với các con thú lành hay Linh Thú. Như Rồng cầm Hốt Như Ý, Long Quy chở Hốt Như ý, voi chở Hốt Như Ý. Khi đi kèm với Hốt Như Ý thì Lực Hóa Giải hay Chiêu Tài, kích Vượng của các Linh Thú cũng mạnh lên nhờ vào ý nghĩa của Hốt Như Ý.

31/. HOA MẪU ĐƠN
Hoa mẫu đơn được tôn vinh nhiều nhất trong thời nhà Đường, nhất là vào những năm của Vua Đường Minh Hoàng trị vì. Có 2 câu thơ của nhà thơ Lý Chánh thời ấy nói về hoa mẫu đơn như sau :
Thiên hương tại nhiễm y
Quốc sắc triều cam rượu
(Hương trời nhuộm lên áo, quốc sắc như say rượu)
Cho nên hoa mẫu đơn còn được gọi là Quốc Sắc Thiên Hương chi hoa. Còn nhà thơ Âu Dương Tu thì ca ngợi hoa mẫu đơn là " Thiên hạ chân hoa độc mẫu đơn "( trong thế gian chân chính xứng mang tên hoa chỉ có mẫu đơn). Chính vì 2 nhà thơ lớn này ca ngợi mà Hoa Mẫu Đơn được xem như là biểu tượng của Phú Quý, sang cả. Khi chưng Hoa Mẫu Đơn trong Bình đẹp, là ta đã có 1 biểu tượng "Phú Quý Bình An" trong Phong Thủy vậy.
Mặt khác, vẻ đẹp đầy đặn của Dương Quý Phi (Dương Ngọc Hoàn, 1 trong Tứ Đại Mỹ Nhân của Trung Quốc) được Đường Minh Hoàng say đắm đến mất cà ngôi vua, nên Hoa Mẫu Đơn còn là biểu tượng của Đào Hoa, dùng để kích hoạt trong Tình Duyên. Nhưng khi 2 vợ chồng trẻ chưng trong phòng thì giúp tình cảm vợ chồng thêm nồng thắm, còn vợ chồng trung niên hay đứng tuổi mà chưng trong phòng ngủ sẽ khiến các ông dễ...lập thêm phòng nhì, hay có bồ nhí bên ngoài.

32/. BẢO GIẢI
Giải chính là con cua. Cua thường có tính đi ngang, cho nên công năng của nó đầu tiên phải nói đến là đánh bại những kẻ ngang ngược, kiếm chuyện vô cớ, hoành hành trong cơ quan, công sở.
Ngoài ra cua có cái khí thế hơi...bá đạo, nên nó cũng là 1 vật dùng để trị tà (mà là những nơi chuyên bị âm binh khuấy phá).
Cua thường được làm bằng đồng. Nhiều nơi người ta làm không chỉ dạng cua bình thường bằng đồng, mà còn làm thêm các thỏi vàng bên dưới, ngụ ý Bảo Giải Cát Tường ( cua báu đem lại may mắn, tốt lành).

33/. LONG PHỤNG TRÌNH TƯỜNG
Long Phụng tức Rồng và chim Phượng Hoàng thì không cần nói ai cũng biết là 2 Linh Thú đứng đầu trong Tứ Linh rồi (đứng đầu không phài xếp theo thứ tự, vì cả 2 con đều bay lượn trên ngàn mây, mà con thú nào trên không là đứng đầu theo chiến thuật quân sự của Trung Quốc xưa_ cả ngày nay vẫn đúng_ nhất điểu, nhì ngư, tam xà, tứ tượng).
Thông thường người ta dùng Rồng để tượng trưng cho người nam, còn chim Phượng Hoàng tượng trưng cho người nữ, nên trong các đám cưới người ta dùng kèm biểu tượng Rồng Phượng là thế. Và người ta cũng chúc những câu tương tự vậy : Long Phụng hảo hợp, Long Phụng hòa duyên... Trong chế độ phong kiến xưa, chỉ có Vua và Hoàng Hậu mới được ví với Rồng và Phượng Hoàng, đủ thấy đây là 2 biểu tượng Linh Thú rất Cao Quý.
Khi đứng riêng 1 mình thì Long có tác dụng ngừa tiểu nhân, hóa giải sát khí; còn Phụng thì có tác dụng Chiêu Quý Nhân, kích hoạt sự nghiệp.
Khi Long Phụng đứng chung gọi là Long Phụng Trình Tường (Rồng Phượng bày điều lành) có tác dụng kích hoạt tình duyên, đem lại điều may mắn, Hóa Giải tất cả Sát Khí ở nơi đặt nó. Long Phụng Trình Tường có thể làm bằng Ngọc (dạng ngọc bội đeo), bằng gốm sứ cao cấp, bằng đồng.
Khi đứng riêng 1 mình, Long có thể làm bằng nhiều chất liệu, đá thường có, đá quý có, đồng có, vàng có,...vv... và cũng có nhiều kiểu dáng Kim Long Như ý, Song Long Hý Châu, Văn Xương Kim Long, Ngọa Long, Thụy Long...vv..
Khi đứng riêng 1 mình thì Phụng thường được dùng trong tranh vẽ nhiều hơn, và nổi tiếng nhất có lẽ là hình tượng Bách Điểu Triều Phụng (100 con chim về chầu chim Phượng Hoàng). Tranh này người ta thường dùng nhất trong Phong Thủy để giúp cho sự nghiệp mình ngày càng nổi tiếng.
34/. THẬP NHỊ HOA GIÁP :
Là biểu tượng của 12 con giáp. Có khi nó gồm đủ 12 con giáp, nhưng có 1 con lớn làm chủ đạo, các con kia xung quanh, khi đó sẽ là vật Áp Tuế, chuyên Hóa Giải cho những người bị hạn Thái Tuế, hay làm nhà mà phạm Hướng Thái Tuế.
Khi đứng riêng rời thì nó dùng để kích hoạt cho những trường hợp Tam Hạp : Ví như người tuổi Thân Tý Thìn thì chọn các con vật trong bộ ba Thân(khỉ)-Tý(chuột)-Thìn(rồng) đặt ở các vị trí tương ứng.
Trong các trường hợp các Vật Khí này được làm kèm với các thỏi vàng, đồng tiền vàng thì chuyên để kích hoạt Tài Lộc cho các tuổi trong bộ Tam Hạp thôi, không kích hoạt chung nữa.
Riêng với trường hợp con giáp là Hổ, thì hình tượng Hổ trong Vật Khí luôn là biểu tượng của sức mạnh, Uy Quyền, nên nó là vật dùng thích hợp nhất với các người lãnh đạo, người làm sếp trong các cơ quan, công ty trong các tuổi Dần-Ngọ-Giáp-Tân (nhưng không là Giáp Thân).

35/. KỲ LÂN TỐNG TỬ :
Đây là do điển tích ngày xưa khi mẹ Khổng Tử trước khi mang thai Ngài, thì nằm mộng thấy 1 đứa bé cởi trên lưng con Kỳ Lân, sau đó thụ thai sinh ra Ngài, nên sau đó người ta xem như đây là biểu tượng tốt để báo hiệu có con, và dùng nó như 1 vật kích hoạt về đường Tử Tức. Thường là biểu tượng này bằng đồng, cũng có bằng tranh nhưng rất ít thấy.

36/. THÁP VĂN XƯƠNG:
Đây là hình tượng tháp 7 tầng hay 9 tầng tại Trung Quốc, Bình Sơn nguyên lãng, chuyên dùng để kích hoạt cho việc học vấn, tri thức. Tháp Văn Xương có nhiều chất liệu, có loại bằng đồng, có loại bằng Thạch Anh, có loại bằng Pha Lê. Đúng ra trong Phong Thủy, Tháp Văn Xương không quan trọng việc chọn số tầng, bởi Tháp Văn Xương bên Trung Quốc có nơi làm 7 tầng, có nơi làm 9 tầng. Nhưng có nhiều người_ nhất là mấy "ông...thần ve chai Trung Quốc"_ chế ra nam dùng 7 tầng, nữ dùng 9 tầng, cái đó không quan trọng, và cũng không đúng, xin các anh chị, các bạn đừng lầm mà lo ngại khi mình mua cho con cái rồi mà nó không đúng số tầng như những lời ngoa ngôn kia.

37/. PHÁP TRƯỢNG:
Đây là biểu tượng tối cao tượng trưng cho quyền lực trong Tôn Giáo. Nếu như các anh chị, các bạn có xem phim "Vua bò cạp" chắc sẽ thấy hình tượng của nó. Pháp trượng có thể làm bằng nhiều chất liệu khác nhau : đồng sáng, gỗ quý, ngọc quý. Nó thường dùng cho những người có chức sắc trong các cơ quan nhà nước, các vị lãnh đạo công ty tượng trưng cho Uy Quyền, ngăn ngừa tiểu nhân, đem lại Quyền Lực.

38/. TAM ĐA:
Cái này thì mình đã nói rất nhiều , và hầu như ai cũng biết Tam Đa chính là : Phúc Lộc Thọ. Bộ Tam Đa có thể bằng gốm sứ, bằng đồng, bằng đá quý, bằng hình tượng Phong Thủy Luân, bằng tranh Phúc Lộc Thọ toàn đồ. Biểu tượng Tam Đa tượng trưng cho 3 vị Thần đem lại may mắn, sức khỏe, hạnh phúc cho mọi người, mọi nhà nên thường người ta hay chưng, bày trong nhà.

39/. PHA LÊ:
Pha Lê có 2 loại : Thiên nhiên và nhân tạo, đương nhiên thì loại thiên nhiên tốt hơn loại nhân tạo rất nhiều, nhưng cũng đắt hơn rất nhiều. Pha Lê tuy trong tiếng Hoa gọi là "shui jing"_Thủy Tinh_ nhưng nó thực ra lại mang Hành Thổ, vì bản chất Thủy Tinh vốn dĩ là loại đá ở dưới biển sâu hàng trăm ngàn năm.
Trong Phong Thủy, Pha Lê có công dụng giải trừ vận rủi, đem lại may mắn cho người dùng nó, nên Pha Lê trở thành vật trang sức được nhiều người ưa chuộng (phần vì nó rất đẹp, ra ánh nắng nó tỏa đủ 7 màu như 7 sắc cầu vồng vậy). Pha Lê ngoài việc làm đồ trang sức ra, nó còn được dùng làm Tháp Văn Xương, Kim Tự Tháp để kích hoạt, Hóa Giải trong Phong Thủy.

40/. TAM DƯƠNG KHAI THÁI
Đây là biểu tượng 3 con dê đứng chung với nhau, thường được làm bằng đồng. Đó là lấy ý nghĩa từ trong Kinh Dịch mà ra.
_ Kinh Dịch nói về quẻ Thái : Thái, tiểu vãng, đại lai, cát hanh. Hàm ý quẻ Thái tượng kẻ tiểu nhân lánh xa, người quân tử đến gần, tượng thông thuận, hanh thông, cát tường
_ Đại tượng truyện quẻ Địa Thiên Thái nói " Thiện Địa giao thái, hậu dĩ tài thành Thiên Địa chi đạo". Ta thấy tượng của quẻ là Càn 3 vạch dương liền dưới quẻ Khôn 3 hào Âm đứt đoạn, 2 quẻ trên dưới mâu thuẫn nhau, tượng khí trời thì giáng xuống, khí đất từ dưới xông lên, 2 khí giao nhau nhờ đó mà vũ trụ giao hòa, các vật, sự việc đối nghịch nhau trở thành vuông tròn, thành tựu.
Cho nên, quẻ Thái nói chung là biểu hiện điều tốt lành, cho nên mới có câu "hết cơn Bĩ cực tới hồi Thới lai"_ Bĩ là quẻ Thiên Địa Bĩ, Thới tức là Thái của quẻ Địa Thiên Thái_ để chỉ khi ta qua hết cơn khốn đốn đến vận hanh thông trở lại. Quẻ Thái tốt là nhờ sự nghịch đảo của quẻ Càn bên dưới, mà Càn có 3 hào Dương. Người ta lấy sự đồng âm trong Hán Ngữ mà chọn chữ Dương là dê, 3 hào Dương trở thành hình tượng 3 con dê là thế. Thay vì 3 hào Dương khai mở ra quẻ Thái lại trở thành 3 con dê đem lại quẻ Thái, đem lại sự thông thuận.
Tóm lại, người đang gặp vận rủi cần chuyển hóa thời vận thì nên đặt biểu tượng này, để cầu mong đem lại sự thông thuận như ý quẻ Thái.

41/. Chiêu Tài kim tiền:
Là các đồng tiền có khắc bốn chữ "Chiêu Tài Tiến Bảo" hoặc "Kim Ngọc Mãn Đường" xâu kết lại với nhau, chuyên dùng kích hoạt Tài Lộc. Có thể là 3 đồng tiền kết với nhau bằng dây ruy băng đỏ để treo trên tay nắm cửa hay bỏ trong bóp, hoặc dán trên bìa cuốn số ghi doanh thu để giúp tăng thu nhập. Có khi là xâu 8 đồng tượng trưng cho Bát Bạch Vượng khí của Vận 8 này, mà chữ Bát cũng đồng âm như chữ Phát trong tiếng Hoa. Có khi là một xâu gồm 10 đồng tiền, hàm ý Thập toàn Thập mỹ.

42/. Bình An kim tiền:
Là tiền đồng lớn có khắc bốn chữ "Xuất nhập bình an"
Nó có công dụng hoá giải Khai Khẩu Sát, hoặc ngăn ngừa đàn bà trong nhà lắm lời. Mặt khác, nếu dùng 2 đồng tiền này dưới gối sẽ giúp cho mối quan hệ vợ chồng được tốt đẹp hơn.

43/. Tiên Nữ hoa đào:
Thường gặp nhất là bằng tranh với hình vẽ Tiên nữ tay cầm cành hoa đào. Đôi khi hình tượng này cũng có trong các đĩa kiểu Trung Quốc, có giá để chưng.
Đây là vật mang lại Tài lộc, Công danh và Hỷ tín cho người nữ, NHƯNG phải là người nữ chưa có chồng mới dùng được. Nam giới thì vô hiệu quả.

44/. Phong Chuỷ Điểu:
Đây là vật khí hoá sát dùng hình tượng một loài thú thượng cổ, thân như mình chuột, có mỏ như mỏ chim, ức dưới có vảy như vảy rồng, có 2 sừng trên đầu. Mỏ nó ngậm một cái vòng tròn. Hai bên có 2 cái giá để thắp đèn cầy đỏ (PHẢI LÀ màu đỏ mới được), bên trong chỗ cắm đèn cầy đó có 2 mảnh kim loại đính bên trong có biểu tượng ngọn lửa.
Đây là vật Chuyên Trị sao Tam Bích Si Vưu tinh gây chuyện thị phi, tiểu nhân, quan phi cực kỳ hay và hiệu quả.

45/. Thập Bát Chiêu Tài:
Đây là một hình thái hơi lạ của Cóc ba chân (thiềm thừ). Thường được làm bằng chất liệu đồng, có hình dáng một con cóc ba chân miệng ngậm đồng tiền, NHƯNG phía thân sau của nó gác lên trên một nải chuối có 18 quả, có sợi xích vòng quanh một quả chuối dính vào trên đầu cóc ba chân và nối với một miếng ngọc bội, một sợi xích khác dính liền dưới ức cóc ba chân nối với đồng tiền trong miệng nó, và một miếng ngọc bội.
Cóc ba chân là biểu tượng Chiêu Tài, Chuối (ba tiêu) cũng là Chiêu Tài, số 18 khi phát âm lên theo tiếng Hoa đồng âm với hai chữ Thật Phát. Nên khi đi chung với nhau, chúng là một biểu tượng Chiêu Tài rất mạnh.
Vật khí này thích hợp nhất với sao Lục Bạch, đặc biệt khi Lục Bạch ở phương Bắc càng tuyệt vời.

46/. Lăng Giác Bảo:
Thường được làm bằng chất liệu gốm sứ, với các hoa văn xung quanh.
Nó có hình dạng như một cái thố có nắp chụp bên trên, có ba chân đế bên dưới, hai bên tay cầm thì lại nhọn, màu vàng kim, và có hình dáng như hai cái sừng gọi là Hoàng kim giác. Các hoa văn xung quanh có hình hoa Mẫu đơn gọi là Phú Quý hoa. Trên nắp có biểu tượng Tam Đa (quả thạch lựu tượng trưng cho Đa Tử, quả đào tiên tượng trưng cho Đa Thọ, quả Phật thủ tượng trưng cho Đa Phúc), Phúc Lộc Thọ.
Cho nên, vật khí này là vật Chiêu Tài Nạp Phúc rất hay, rất thích hợp với sao Nhất Bạch, đặc biệt khi Nhất Bạch tại Trung Cung.

47/. Đại Chú Tiệp:
Có hình dáng là một bó những đoạn trúc ngắn. Vì chữ Chú và chữ Trúc đồng âm, bản thân cây trúc có rất nhiều Tiết (đốt, mắt), chữ Tiết lại đồng âm với chữ Tiệp, hàm ý thi cử đỗ đạt, , công tác thành công. Xung quanh bó trúc, ở đoạn ống giửa hai đốt có ghi bốn chữ "Tiết tiết cao thăng" hàm ý chiêu Quý nhân đến. Cả bó trúc đó có rất nhiều đốt, gọi là "Đa tiết Văn Xương trúc". Trên bó trúc là những thỏi vàng xếp thành bệ. Trên bệ là một con Đại ngao Ngư với đầu giống đầu Rồng, với hàm ý "Độc chiếm ngao đầu"_ chiếm đầu bảng.
Vật khí này còn có tên là "Đại Văn Xương", "Vạn ý tiết tiết cao thăng". Nó là vật kích hoạt cho sao Văn Xương Tứ Lục rất hay, nhất là khi sao Tứ Lục đóng tại Cấn phương.